Chào mừng năm học mới 2017-2018
 
 
 

Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 [ 08-04-2009- ]
Báo cáo Chiến lược được biên soạn trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại tờ trình số 34/TTr/ XD-NN & PTNT ngày 27-10-1999 của Liên Bộ: Bộ Xây dựng và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg ngày 25-8-2000 phê duyệt Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020.

 

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

 

Bản Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 do Bộ Xây dựng chủ trì phối hợp với các Bộ, Ngành có liên quan đã được soạn thảo trong 2 năm, 1997 - 1998 với sự trợ giúp của cơ quan Hỗ trợ phát triển Quốc tế Đan Mạch. Đây là sản phẩm của một tập thể nghiên cứu bao gồm Giám đốc dự án quốc gia, Cố vấn trưởng kỹ thuật cùng các chuyên gia tư vấn quốc tế và trong nước. Báo cáo này là kết quả của hàng loạt các cuộc trao đổi rộng rãi với các tổ chức và cá nhân quan tâm đến lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ở Việt Nam.

   

Báo cáo Chiến lược được biên soạn trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại tờ trình số 34/TTr/ XD-NN & PTNT ngày 27-10-1999 của Liên Bộ: Bộ Xây dựng và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg ngày 25-8-2000 phê duyệt Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020.

 

Bộ Xây dựng và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã hiệu chỉnh Bản Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 theo nội dung và tinh thần của Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg.

  

Đây là văn bản chính thức của Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn.

 

 


M Ụ C   L Ụ C

MỞ ĐẦU

 

Mục                Nội dung                                                                                              Trang

GIỚI THIỆU.................................................................................................................. 1

1.  TÌNH HÌNH CẤP NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH NÔNG THÔN, KHÓ KHĂN, TỒN TẠI VÀ THUẬN LỢI 3

1.1    Tình hình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn................................................................ 3

1.2    Khó khăn, tồn tại....................................................................................................... 6

1.3    Thuận lợi................................................................................................................. 7

1.4    Triển vọng phát triển.................................................................................................. 8

2.  MỤC TIÊU, PHƯƠNG CHÂM, NGUYÊN TẮC VÀ CÁCH TIẾP CẬN CHUNG...................... 10

2.1    Mục tiêu................................................................................................................ 10

2.2    Phương châm, nguyên tắc, cách tiếp cận chung và phạm vi thực hiện................................. 11

3.  CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU....................................................................................... 15

3.1    Thông tin - giáo dục - Truyền thông và tham gia của cộng đồng....................................... 15

3.2    Cải tiến tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển nguồn nhân lực............ 19

3.3    Đổi mới cơ chế tài chính............................................................................................ 26

3.4    Nghiên cứu phát triển và áp dụng công nghệ thích hợp................................................... 31

3.5    Một số vấn đề cần chú ý trong quá trình tổ chức thực hiện chiến lược................................ 35

4.  CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG ĐẾN NĂM 2005........................................................... 39

4.1    Chương trình hành động đến năm 2005 gồm những nội dung chủ yếu sau đây:.................... 40

4.2    Mở rộng thực hiện chương trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ra 46 tỉnh khác............ 41

4.3    Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự trợ giúp về kỹ thuật, tài chính và kinh nghiệm của các nước về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.................................................................................................................. 41

4.4    Triển khai công tác Thông tin - Giáo dục - Truyền thông................................................. 42

4.5    Cải cách tổ chức, tăng cường năng lực quản lý ở các cấp................................................. 43

4.6    Soạn thảo và ban hành các văn bản pháp quy............................................................... 44

4.7    Công tác quy hoạch................................................................................................. 44

4.8    Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.............................................................................. 45

4.9    Đổi mới cơ chế tài chính,  huy động các nguồn vốn trong xã hội........................................ 46

4.10   Nghiên cứu phát triển và áp dụng công nghệ thích hợp................................................... 46

4.11   Thành lập cơ sở dữ liệu chung cho lĩnh vực cấp nước và vệ sinh nông thôn........................ 47


PHỤ LỤC

 

Phụ bản 1

Định nghĩa những thuật ngữ chính

48

Phụ bản 2

Danh mục tài liệu tham khảo chính

51

Phụ bản 3

1. Tiêu chuẩn lý - hoá nước sạch

2. Tiêu chuẩn sinh - hoá nước sạch

54

56

Phụ bản 4

Tuyên bố tại Dublin về Nước và sự phát triển bền vững

57

Phụ bản 5

Phương án xây dựng và chi phí

63

Phụ bản 6

Hướng dẫn và ví dụ về giá Nước sạch

73

Phụ bản 7

Thực hiện thí điểm

78

Phụ bản 8

Giả định và Rủi ro

81

Phụ bản 9

Dân số  Việt Nam tính đến 1/4/1999 theo tỉnh

83

Phụ bản 10

Bản đồ Việt Nam (phần đất liền)

84

 

 

 

DANH MỤC VIẾT TẮT

 

Chương trình WATSAN

Chương trình cấp nước và vệ sinh môi trường

Danida

Cơ quan hỗ trợ phát triển quốc tế của Đan Mạch

Finida

Cơ quan hỗ trợ phát triển quốc tế của Phần Lan

UBND

Uỷ ban nhân dân

UN

Liên hiệp quốc

UNDP

Chương trình phát triển Liên hiệp quốc

WB

Ngân hàng thế giới

UNICEF

Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc

VNĐ

Tiền đồng Việt nam

 


GIỚI THIỆU

 

Nước sạch và vệ sinh môi trường là một nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của mọi người và đang trở thành đòi hỏi bức bách trong việc bảo vệ sức khỏe và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân, cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

Nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ phải “Cải thiện việc cấp thoát nước ở đô thị, thêm nguồn nước sạch cho nông thôn”. Khu vực nông thôn Việt nam chiếm 75% dân số cả nước và nông nghiệp luôn là bộ phận quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc dân.

 

Tuy nhiên, người dân nông thôn nói chung còn nghèo, và trong quá trình cải cách kinh tế đang có xu hướng ngày càng tụt hậu so với dân thành thị cả về phát triển kinh tế lẫn chất lượng cuộc sống.

 

Đảng - Chính phủ đang tập trung vào phát triển nông thôn, coi phát triển nông thôn là ưu tiên quốc gia, đang triển khai nghiên cứu Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn  trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Chính phủ cũng ưu tiên cho phát triển Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn, đã quyết định đưa việc giải quyết nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trở thành một trong bảy (7) chương trình mục tiêu quốc gia quan trọng nhất từ nay đến năm 2005. Nhiều dự án xây dựng công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn do Nhà nước và quốc tế tài trợ như chương trình UNICEF đã và đang được triển khai ở các địa phương. Số lượng công trình do nhân dân tự xây dựng còn lớn hơn nhiều. Mặc dầu vậy, mới chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu cấp nước sạch và vệ sinh của toàn dân.

 

Hiện nay, vẫn còn hơn 70% dân số nông thôn sử dụng nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh và một nửa số hộ ở nông thôn không có nhà tiêu. Các bệnh có liên quan tới nước và vệ sinh như tiêu chảy, giun, đường ruột rất phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh thường gặp trong nhân dân. Vấn đề xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh đang trở thành một đòi hỏi rất cấp bách và có quy mô rộng lớn trong những năm tới.

 

Trong bối cảnh đó, cần phải có một chiến lược phát triển tổng quát và lâu dài cho lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn là một khái niệm rộng lớn, trong chiến lược này chủ yếu tập trung giải quyết vấn đề cung cấp nước sạch cho sinh hoạt và các nhu cầu vệ sinh trong gia đình. Phạm vi nghiên cứu của Chiến lược bao gồm tất cả các vùng nông thôn trong cả nước.

 

Như đã được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ tại công văn số 6610/QHQT ngày 24/12/1996, Bộ Xây dựng phối hợp với các Bộ có liên quan: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Khoa học Công nghệ và Môi trường, Kế hoạch và Đầu tư và Ban chỉ đạo quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường tổ chức nghiên cứu Chiến lược quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn với sự tài trợ của Chính phủ Vương quốc Đan Mạch.

 

Trong 2 năm 1997 và 1998, các chuyên gia tư vấn quốc tế và các chuyên gia Việt nam đã tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ở 9 tỉnh đại diện cho 8 vùng; nghiên cứu soạn thảo Chiến lược; trao đổi ý kiến trực tiếp với các Bộ, Ngành và tổ chức nhiều cuộc Hội thảo cấp cơ sở, cấp tỉnh, cấp vùng và Hội thảo quốc gia để lấy ý kiến người sử dụng, cộng đồng dân cư và cán bộ ở địa phương và các Bộ, Ngành, các tổ chức xã hội và các chuyên gia của các ngành có liên quan.

 

Ban chỉ đạo dự án Chiến lược quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn đã được thành lập gồm các thành viên: Ban chỉ đạo quốc gia nước sạch và Vệ sinh môi trường, các Bộ: Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Khoa học công nghệ và Môi trường, Kế hoạch và Đầu tư, Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam, Trung ương đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Ban chỉ đạo dự án đã theo dõi và chỉ đạo trong suốt quá trình nghiên cứu Chiến lược.

 

Dựa vào các kết quả nghiên cứu nêu trên, Bộ Xây dựng đã biên soạn Chiến lược quốc gia Cấp nước sạch và Vệ sinh nông thôn đến năm 2020. Bản Chiến lược này đã được sự tham gia đóng góp của các cơ quan và các chuyên gia các Bộ, Ngành và các đoàn thể quần chúng. Tiếp đó, Bộ Xây dựng đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bản Chiến lược này.

 

Bộ Xây dựng xin chân thành cảm ơn sự hợp tác giúp đỡ và sự tham gia nhiệt tình của các Bộ, các Ngành và sự giúp đỡ có hiệu quả của Chính phủ Vương quốc Đan Mạch trong việc nghiên cứu Chiến lược quốc gia.

 

Sau đây là nội dung chủ yếu của Chiến lược.

 


 

PHẦN I

 

1.        TÌNH HÌNH CẤP NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH NÔNG THÔN, KHÓ KHĂN, TỒN TẠI VÀ THUẬN LỢI

 

1.1        Tình hình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn

 

1.1.1     Tình hình chung

 

Hiện nay đại bộ phận dân cư nông thôn là những người nông dân làm ăn nhỏ, đa số sống trong các thôn xóm, làng bản tương đối tập trung, có tổ chức hành chính vững chắc và truyền thống cộng đồng lâu đời với cơ cấu hạt nhân là hộ gia đình bình quân có 5 người. Nhưng mức sống còn thấp, một bộ phận đáng kể dân cư nông thôn thuộc diện nghèo, thu nhập chỉ đủ cho nhu cầu tối thiểu về ăn mặc không còn kinh phí cho các nhu cầu khác, nhận thức về cấp nước và vệ sinh môi trường còn rất hạn chế.

 

Năm 1997, Chính phủ đã đề ra Định hướng phát triển nông thôn bao gồm 5 nội dung cụ thể:

 

·      Đầu tư mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm, trồng rừng và khuyến khích phát triển ngành chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.

·      Nâng cao tỷ lệ ngân sách Nhà nước, vốn Viện trợ phát triển chính thức từ nước ngoài (ODA) và đóng góp của địa phương để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội.

·      Tạo điều kiện thuận lợi hơn để phát triển các hoạt động kinh doanh vật tư và nông sản hàng hoá, khuyến khích sự liên kết giữa các doanh nghiệp Nhà nước với những người buôn bán nhỏ và nông dân.

·      Khuyến khích áp dụng trang thiết bị và công nghệ mới trong sản xuất và chế biến ở nông thôn.

·      Hỗ trợ các hộ gia đình hợp tác trong cơ chế mới, thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cho thuê đất một cách linh hoạt hơn.

 

Hiện nay, Chính phủ đang chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai nghiên cứu Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mục tiêu cơ bản là bảo đảm an ninh lương thực quốc gia với dân số lên tới 91 - 94 triệu người vào năm 2010, với cơ cấu và chất lượng bữa ăn được cải thiện. Phát triển toàn diện sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, nghề muối, công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ để tạo việc làm, tăng thu nhập cho dân cư nông thôn. Phát triển y tế, giáo dục, văn hoá, xây dựng nông thôn mới văn minh hiện đại với bản sắc dân tộc; đảm bảo an toàn xã hội; thực hiện quy chế dân chủ ở nông thôn; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai để phát triển bền vững.

 

1.1.2      Tình hình nguồn nước

 

Nói chung nguồn nước của Việt Nam hiện còn dồi dào. Lượng mưa khá cao, một hệ thống sông ngòi kênh mương dày đặc, nước ngầm phong phú tại những vùng đất thấp. Tuy nhiên, nguồn nước phân bố không đều theo cả thời gian và không gian. Một số vùng rất khan hiếm nước. Các vấn đề tồn tại chủ yếu là: sử dụng ngày càng nhiều nước mặt để tưới ruộng; nạn phá rừng ảnh hưởng nghiêm trọng tới các nguồn nước; nước ngầm chứa nhiều sắt, măng gan phải xử lý tốn kém; các vùng đồng bằng và ven biển tương đối rộng lớn thì nguồn nước bị nhiễm mặn; sự ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt ngày càng tăng do chất thải công nghiệp và sinh hoạt. Ngoài ra, hạn hán thường xảy ra cũng là một vấn đề cần phải được quan tâm đầy đủ hơn.

 

1.1.3      Tình hình cấp nước sạch

 

Phần lớn các hộ nông thôn sử dụng 2 nguồn nước, một nguồn để ăn uống thường là nước mưa và một nguồn để tắm giặt. Các hệ thống cấp nước công cộng bằng đường ống dùng chung cho nhiều hộ chưa phổ biến. Các hộ thường có công trình cấp nước riêng như giếng đào, lu hay bể chứa nước mưa. Hơn 50% số hộ nông thôn dùng nước giếng đào, 25% dùng nước sông suối, hồ ao, và hơn 10% dùng nước mưa. Bộ phận còn lại dùng nước giếng khoan và rất ít hộ được cấp nước bằng hệ thống đường ống.

 

Các giếng đào thường là những giếng ngoài trời theo truyền thống. Nước mưa được chứa trong bể hay lu thường không được che đậy; dùng gầu hay gáo để múc nước là phổ biến. Các giếng khoan có đường kính nhỏ và dùng bơm tay. Chất lượng nước nói chung không đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Ước tính mới có khoảng 30% dân số có nguồn nước tương đối sạch, trong đó chỉ có khoảng 10% đạt tiêu chuẩn quốc gia về nước sạch. Một số vùng còn thiếu cả nước dùng cho sinh hoạt với số lượng tối thiểu chứ chưa nói đến chất lượng nước như: vùng bị nhiễm mặn ở ven biển, hải đảo, vùng núi cao, các vùng sâu vùng xa, vùng biên giới, vùng đá vôi castơ và trong thời gian gần đây là các vùng bị hạn hán như Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Hoà Bình, Cao Bằng, Hà Giang.

 

1.1.4      Tình hình vệ sinh nông thôn

 

Ước tính khoảng 50% số hộ ở nông thôn không có nhà tiêu và đa số các hộ này đi vệ sinh ngoài trời, bộ phận còn lại sử dụng  hố xí của hàng xóm. Trong 50% số hộ có nhà tiêu thì phần lớn là những hố xí một ngăn hoặc hố xí đào không hợp vệ sinh, phân thường được lấy ra để bón ruộng mà không qua xử lý. Loại nhà tiêu thông dụng nữa là hố xí 2 ngăn ở phía Bắc và cầu tiêu ao cá ở phía Nam, mỗi loại có khoảng 10% số hộ sử dụng. Bộ phận nhỏ còn lại dùng hố xí thấm dội nước (hố xí Sulabh) hoặc bể tự hoại. Trong tổng số các loại hố xí chỉ có khoảng 20% là hợp vệ sinh.

 

1.1.5     Tình hình sức khỏe

 

Tình hình sức khỏe, khi đánh giá theo tỷ lệ chết của trẻ dưới 1 tuổi thì tương đối tốt so với 1 số nước láng giềng (như năm 1993 tỷ lệ chết của trẻ dưới 1 tuổi ở Việt nam là 42/1000 so với Indonesia 56/1000). Nhưng khi xem xét các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh thì tình hình lại trở nên xấu. Chẳng hạn bệnh tiêu chảy đã tăng từ 300 ca/100.000 dân năm 1990 lên 1.200 ca/100.000 dân năm 1996 và 1265 ca/100.000 năm 1997. Các bệnh giun, đường ruột cũng là một vấn đề lớn, ở một số vùng có tới 90% dân số nông thôn bị giun (vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ).

 

Thực hành vệ sinh cá nhân ở nông thôn rất kém, nói chung người dân ít hiểu biết và ít quan tâm về mối liên quan giữa nước - nhà tiêu - vệ sinh cá nhân và sức khỏe.

 

1.1.6     Tình hình xây dựng công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn

 

Một chương trình lớn về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn của Chính phủ được UNICEF tài trợ đã hoạt động từ hơn 10 năm nay ở hầu hết các tỉnh là một đóng góp quan trọng cho sự phát triển của lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn. Hàng trăm ngàn giếng nước bơm tay UNICEF và các nhà vệ sinh đã được xây dựng, đồng thời người dân đã tự đầu tư xây dựng số lượng công trình cấp nước sạch và vệ sinh lớn hơn 2 - 3 lần số lượng công trình do chương trình UNICEF tài trợ, đã cải thiện một cách đáng kể điều kiện cấp nước sạch và vệ sinh cho các vùng nông thôn. Tuy nhiên, tổng đầu tư của cả Nhà nước và nhân dân cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn còn rất nhỏ bé so với yêu cầu cải thiện điều kiện Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ở nước ta.

1.2        Khó khăn, tồn tại

 

1.2.1      Khó khăn về kinh tế - tài chính

·         Mức sống của dân cư nông thôn nói chung còn rất thấp: tỷ lệ các hộ đói nghèo  còn khá cao (theo báo cáo của Chính phủ trước kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa X tháng 5/1999, tỷ lệ hộ đói nghèo trong cả nước năm 1998 là 17%; theo số liệu của Bộ Lao động Thương binh Xã hội cuối năm 2000, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm xuống còn 11%) với thu nhập mới chỉ đạt 13kg thóc/người/ tháng nghĩa là chỉ đủ ăn mà không còn tiền để chi tiêu cho các nhu cầu khác.

·         Đầu tư cho lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn quá ít: tính trung bình trong 10 năm cải cách kinh tế cả Nhà nước và tài trợ quốc tế mới đầu tư được khoảng 0,13 USD cho 1 người dân trong 1 năm. Trong 10 năm mới đầu tư 1,3 USD cho 1 người. So với nhu cầu chi phí để xây dựng các công trình cấp nước sạch và vệ sinh cơ bản vào khoảng 15 USD cho 1 người dân thì mức đầu tư của Chính phủ và các nhà tài trợ chỉ bằng 1% nhu cầu chi phí xây dựng nêu trên.

·         Tỷ lệ số hộ ở nông thôn có công trình cấp nước và nhà tiêu tương đối hợp vệ sinh còn thấp:

-     Đối với công trình cấp nước là 30%

-     Còn đối với nhà tiêu là 20%

 

1.2.2       Khó khăn về xã hội và tập quán

·         Hiểu biết về vệ sinh và sức khỏe của người dân nông thôn còn thấp. Số đông ít quan tâm đến vệ sinh, coi đó chỉ là vấn đề cá nhân liên quan đến tiện nghi là chính chứ không phải là một vấn đề công cộng có liên quan đến sức khỏe của cộng đồng và sự trong sạch của môi trường.

·         Thực hành vệ sinh kém nên các bệnh tật phổ biến vẫn thường xuyên xảy ra ở nông thôn, có khi xảy ra dịch lớn như tả, thương hàn, sốt xuất huyết khiến cho người nông dân đã nghèo, nay lại khó hơn vì ốm đau, bệnh tật.

·         Ở vùng đồng bằng sông Hồng và ven biển Bắc Trung Bộ người dân nông thôn có tập quán lâu đời sử dụng phân người chưa được xử lý tốt làm phân bón.

Ở phía Nam, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, phân người được thải trực tiếp xuống ao làm thức ăn cho cá.

·         Tổ chức của lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn còn phân tán, sự phối hợp giữa các Bộ, Ngành chưa tốt. Quản lý nguồn nước và cấp nước nông thôn thuộc trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm cấp nước đô thị bao gồm cả các thị trấn (đô thị loại 5); vệ sinh lại là trách nhiệm của Bộ Y tế, mặc dù cả Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Khoa học Công nghệ môi trường cũng có trách nhiệm về vệ sinh. Còn về lĩnh vực môi trường thì lại càng liên quan đến nhiều Bộ hơn.

·         Nhà nước chưa có chính sách huy động sự tham gia đóng góp của các thành phần kinh tế để cùng với người sử dụng xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh mà vẫn áp dụng cách tiếp cận dựa vào cung cấp là chính.

·         Về pháp chế còn thiếu các quy định và hướng dẫn cụ thể để có thể quản lý tốt lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

1.2.3     Khó khăn kỹ thuật và thiên tai

·         Có nhiều vùng gặp khó khăn về nguồn nước như các vùng bị nhiễm mặn (ước tính có hơn 13 triệu người sống tại các vùng này); các vùng núi cao và các vùng đá vôi castơ thường thiếu nguồn nước, đồng bào phải đi lấy nước từ suối rất xa, những vùng này được đặc trưng bởi nước ngầm ở rất sâu và không có hoặc rất hiếm nước mặt.

·         Thời gian gần đây khí hậu thời tiết có những biến động thất thường, lũ lụt và hạn hán xẩy ra ở nhiều địa phương làm cho tình hình nguồn nước càng khó khăn hơn. Một số nơi nguồn nước cạn kiệt đang trở thành vấn đề nghiêm trọng cho cả sản xuất và sinh hoạt, đòi hỏi phải có những biện pháp khẩn cấp và đặc biệt.

·         Đối với vệ sinh, khó khăn tồn tại lớn là đa số hộ chưa có hố xí đạt tiêu chuẩn vệ sinh và một bộ phận đông dân cư nông thôn sinh sống ở vùng bị ngập lụt đang sử dụng loại nhà tiêu trên ao cá, không đảm bảo vệ sinh nhưng chưa có công nghệ thích hợp thay thế.

·         Các làng chài ven biển có mật độ dân số rất cao nhưng lại thiếu nước sạch và không có nhà vệ sinh. ở các làng nghề môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng.

·         ô nhiễm do chuồng trại gia súc và thuốc trừ sâu cũng là một vấn đề lớn cần được nghiên cứu giải quyết riêng.

·         Chưa có các trung tâm chuyển giao công nghệ và sản xuất cung ứng các vật tư thiết bị cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

1.3         Thuận lợi

 

Bên cạnh các khó khăn tồn tại, lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn cũng  có một số thuận lợi:

 

·      Quan tâm và ưu tiên của Đảng - Chính phủ

Thể hiện ở việc Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị 36 về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”, chương trình mục tiêu Quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, ở việc thành lập Ban chỉ đạo Quốc gia về cấp nước và vệ sinh môi trường ở Trung ương và các địa phương, ở chỉ thị 200/TTg của Thủ tướng Chính phủ về công tác Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn cùng nhiều văn bản khác của Nhà nước nói lên tầm quan trọng và ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực này. Chính phủ đang tập trung vào phát triển nông thôn, coi phát triển nông thôn là ưu tiên quốc gia, đang triển khai nghiên cứu Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn  trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá.

 

·      Hệ thống tổ chức hoạt động trong lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn đã được thành lập rộng khắp ở tất cả các tỉnh, thông qua Chương trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn do UNICEF tài trợ. Đó là một tiền đề quan trọng để phát triển lĩnh vực trong tương lai.

 

·      Quá trình phân cấp và phi tập trung hóa được xác lập vững chắc cũng là một thuận lợi để triển khai thực hiện nhanh chóng xuống tận người dân các chương trình, dự án về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

·      Kinh tế nông thôn đang chuyển sang cơ chế thị trường và kinh tế trang trại với cách tiếp cận theo nhu cầu và khu vực tư nhân phát triển rộng khắp đang tạo điều kiện để xóa bỏ cơ chế bao cấp và thực hiện xã hội hóa lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

Ngoài ra, còn phải kể đến một thuận lợi nữa là được sự quan tâm trợ giúp ngày càng tăng của các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ song phương, đa phương và các tổ chức phi chính phủ.

 

1.4         Triển vọng phát triển

 

Trong 10 năm đổi mới, nền kinh tế quốc dân đã có bước phát triển đáng kể, trong đó có sự phát triển của khu vực nông thôn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1998 thấp hơn, nguyên nhân chủ yếu là do cuộc khủng hoảng tài chính đã lan rộng ở khu vực Đông Nam á. Cho đến nay, khu vực nông thôn chủ yếu được phát triển thông qua việc tăng cường sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nâng cao năng suất lúa gạo và một số cây công nghiệp. Nhưng các nhà hoạch định Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn  trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã chỉ ra là phát triển kinh tế nông thôn phải phát triển toàn diện: sản xuất lương thực, phát triển cây công nghiệp, rau quả, tiến tới đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến và đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính, phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông lâm sản và công nghiệp nông thôn. Phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn và phát triển các dịch vụ nông thôn. Định hướng nêu trên sẽ dẫn đến chính sách khuyến khích phát triển các đô thị nhỏ thành những trung tâm nông thôn, là cầu nối giữa đô thị và nông thôn, phục vụ đắc lực cho phát triển nông thôn. Trong tương lai ngày càng có nhiều người sinh sống tại các đô thị nhỏ; các điểm dân cư manh mún, phân tán cũng sẽ tích tụ vào các khu dân cư có quy mô dân số từ 1.000 người trở lên.

 

Chiến lược Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn sẽ được thực hiện trong khuôn khổ các chính sách tổng thể của Nhà nước và gắn chặt với Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn.

 

Các chính sách chủ yếu của Nhà nước tác động đến Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn là:

 

·        Các điều kiện sống ở nông thôn sẽ được cải thiện, trong đó có Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn: đa số người dân nông thôn phải được cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cũng phải được cải thiện, kể cả việc chấm dứt sử dụng phân tươi làm phân bón và thực hiện được một môi trường nông thôn “Xanh, Sạch và Đẹp”

 

·        Ở những nơi có tính khả thi và có hiệu quả kinh tế cần khuyến khích cấp nước tập trung cho khu vực nông thôn với sự trợ giúp của Chính phủ để các hệ thống đó có sức hấp dẫn hơn về mặt tài chính.

 

·        Các hộ gia đình và các cộng đồng nông thôn sẽ chịu trách nhiệm chính để phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn theo nguyên tắc phát triển bền vững (bao gồm cả Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn), còn Nhà nước sẽ đóng vai trò quản lý, hướng dẫn và tạo những điều kiện thuận lợi.

 

·        Việc thực hiện Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn sẽ được phân cấp, các cấp tỉnh, huyện, xã và thôn xóm sẽ có vai trò rất quan trọng trong việc lập kế hoạch và thực hiện Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

·        Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn sẽ được thực hiện theo các nguyên tắc Dublin, bao gồm: nước được xem là một loại hàng hoá kinh tế (cũng như một hàng hoá xã hội); việc ra quyết định và quản lý được thực hiện ở cấp thấp nhất phù hợp và chú trọng đến sự tham gia của phụ nữ.


 

PHẦN II

 

2.        MỤC TIÊU, PHƯƠNG CHÂM, NGUYÊN TẮC VÀ CÁCH TIẾP CẬN CHUNG

 

2.1        Mục tiêu

 

Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn sẽ góp phần thực hiện Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá với các mục tiêu dưới đây:

 

2.1.1     Mục tiêu tổng thể

1.   Tăng cường sức khỏe

Tăng cường sức khỏe cho dân cư nông thôn bằng cách giảm thiểu các bệnh có liên quan đến nước và vệ sinh nhờ cải thiện việc cấp nước sạch, nhà vệ sinh và nâng cao thực hành vệ sinh của dân chúng.

 

2.   Nâng cao điều kiện sống

Các công trình cấp nước và vệ sinh hiện nay nếu được cải tiến và nhân rộng sẽ đem lại tiện ích to lớn, nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn, làm giảm bớt sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn, góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.

 

3.   Giảm tình trạng ô nhiễm môi trường do phân người và phân gia súc

Giảm đến mức thấp nhất lượng phân người và phân gia súc chưa được xử lý làm ô nhiễm môi trường, gây mùi hôi thối, phát sinh ruồi muỗi, cũng như giảm ô nhiễm hữu cơ các nguồn nước.

 

2.1.2     Mục tiêu cụ thể

Để đạt được các mục tiêu tổng thể nêu trên phải thực hiện được các mục tiêu cụ thể như sau:

 

Mục tiêu đến năm 2020

 

·         Tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia với số lượng tối thiểu 60lít/người-ngày và sử dụng hố xí hợp vệ sinh nhờ huy động cộng đồng tham gia mạnh mẽ và áp dụng cách tiếp cận dựa vào nhu cầu.

·         Hầu hết dân cư nông thôn thực hành tốt vệ sinh cá nhân và giữ sạch vệ sinh môi trường làng xã nhờ các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông.

 

Mục tiêu đến năm 2010

 

·      85% dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh với số lượng 60lít/người-ngày,

·      70% gia đình có hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân,

 

Trong những năm trước mắt cần chú ý thực hiện các việc sau:

 

·         Tập trung cố gắng để chậm nhất đến năm 2005, tất cả các nhà trẻ, trường học, bệnh viện, trạm xá, chợ và các công trình công cộng khác ở nông thôn  có đủ nước sạch và có đủ hố xí hợp vệ sinh.

·         Tập trung và ưu tiên giải quyết các yêu cầu cấp thiết về nước sinh hoạt cho những vùng thiếu nước như vùng bị hạn hán, vùng biên giới, hải đảo, vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, vùng bị nhiễm mặn và vùng nước bị ô nhiễm như vùng bị lũ lụt, vùng bị ảnh hưởng của nước thải công nghiệp.

·         Chống cạn kiệt, chống ô nhiễm, bảo vệ chất lượng nguồn nước ngầm và nguồn nước mặt tại các hồ, đầm, sông suối.

·         Đảm bảo vệ sinh trong chăn nuôi gia đình, chăn nuôi tập trung, sản xuất tiểu thủ công tại các làng nghề để giữ sạch môi trường ở các làng, xã.

2.2        Phương châm, nguyên tắc, cách tiếp cận chung và phạm vi thực hiện

 

2.2.1     Phương châm 

·         Phát huy nội lực của dân cư nông thôn, dựa vào nhu cầu, trên cơ sở đẩy mạnh xã hội hóa trong đầu tư, xây dựng và quản lý, đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong các dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn. Người sử dụng quyết định mô hình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn phù hợp với khả năng cung cấp tài chính, tổ chức thực hiện và quản lý công trình. Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn và hỗ trợ, có chính sách giúp đỡ các gia đình thuộc diện chính sách, người nghèo, vùng dân tộc ít người và một số vùng đặc biệt khó khăn khác.

·         Hình thành thị trường nước sạch và dịch vụ vệ sinh nông thôn theo định hướng của Nhà nước.

 

2.2.2     Nguyên tắc cơ bản là phát triển bền vững

 

Nguyên tắc này coi trọng sự phát triển vững chắc: làm đâu được đấy, hơn là sự phát triển nhanh nhưng nóng vội, làm xong lại hỏng phải làm lại. Rút cục lại chậm và tốn kém hơn. Đồng thời phải đảm bảo phát triển trước mắt không làm tổn hại đến tương lai và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nước.

Muốn đạt được sự bền vững thì phải:

·         Đảm bảo có nguồn tài chính liên tục và kịp thời, không những chỉ để xây dựng mà còn để quản lý vận hành và thay thế khi công trình hết thời hạn sử dụng (bền vững về tài chính)

·         Phải có người chủ sở hữu rõ ràng để quan tâm bảo vệ giữ gìn công trình cũng như quan tâm đến việc sử dụng liên tục và kéo dài thời gian khai thác (bền vững về sử dụng)

·         Đảm bảo khả năng hoạt động thường xuyên và lâu dài của công trình. Tức là phải có bộ máy quản lý (dù là đơn giản), có công nghệ thích hợp, có chăm sóc bảo dưỡng, có người biết vận hành, có mạng lưới dịch vụ sửa chữa, có vật tư phụ tùng thay thế dễ kiếm. (bền vững về hoạt động )

 

Thực hiện nguyên tắc bền vững sẽ gặp nhiều khó khăn. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy chỉ khi nào người sử dụng - tức là các hộ nông dân trở thành người chủ thực sự của công trình thì mới có được sự bền vững.

 

Nhưng muốn người sử dụng là chủ công trình thì phải thực hiện cách tiếp cận dựa trên nhu cầu và phải tuân thủ một số hướng dẫn cơ bản chỉ đạo thực hiện.

 

2.2.3     Cách tiếp cận chung

 

Là cách tiếp cận dựa trên nhu cầu, người sử dụng tự trả các chi phí và thực hiện xã hội hoá lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

 Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu

Cách tiếp cận này sẽ thay thế cho cách tiếp cận dựa vào cung cấp trước đây. Có nghĩa là người sử dụng sau khi được tư vấn cần thiết sẽ: 

·         Quyết định loại công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn mà mình mong muốn, cung cấp tài chính cho xây dựng công trình và tự tổ chức thực hiện,

·         Tự xây dựng hoặc thuê nhà thầu xây dựng công trình,

·         Quản lý, vận hành và duy trì công trình.

 

Các cơ quan Nhà nước và các nhà tài trợ sẽ đóng vai trò tư vấn hướng dẫn và hỗ trợ mà không làm thay.

 

Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu chính là nhằm phát huy nội lực cao nhất, cần được thực hiện càng sớm càng tốt. Cố gắng để đến năm 2005 toàn bộ lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn được thực hiện hoàn toàn dựa theo cơ chế của cách tiếp cận này.

 

 Trả các chi phí

 

Về nguyên tắc, người sử dụng sẽ chịu toàn bộ chi phí xây dựng và vận hành các công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn. Tuy nhiên, Nhà nước sẽ trợ cấp cho một số đối tượng người sử dụng và một số loại hình công nghệ nhất định sau đây:

·         Người nghèo, người rất nghèo và các gia đình thuộc diện chính sách ưu tiên có khó khăn về đời sống,

·         Các hệ thống cấp nước tập trung được Nhà nước khuyến khích,

·         Một số trường hợp đặc biệt.

 

Trong mọi trường hợp người sử dụng sẽ trả toàn bộ chi phí vận hành và kiểm soát tất cả các khoản chi phí:  xây dựng, vận hành và quản lý.

 

Xã hội hóa lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn

 

Xã hội hóa lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn là vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý để huy động sự tham gia đóng góp tích cực và nhiều mặt của mọi thành phần kinh tế và cộng đồng dân cư trong đầu tư vốn, thi công xây lắp, sản xuất thiết bị phụ tùng, các dịch vụ sửa chữa và quản lý vận hành. Khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư xây dựng công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn nhất là công trình cấp nước tập trung. Cơ quan quản lý Nhà nước rút khỏi kinh doanh xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh, công việc này giao cho các nhà thầu là doanh nghiệp Nhà nước hoặc Công ty tư nhân đảm nhận thông qua đấu thầu cạnh tranh. Hình thành thị trường các dịch vụ cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn theo định hướng của Nhà nước.

 

2.2.4        Những hướng dẫn thực hiện theo nguyên tắc cơ bản và cách tiếp cận chung

 

Để có thể áp dụng được cách tiếp cận dựa trên nhu cầu và thực hiện được mức phát triển bền vững thì phải tuân thủ 5 hướng dẫn chỉ đạo thực hiện sau đây:

 

·        Để cho người sử dụng tự quyết định lựa chọn công nghệ, địa điểm công trình cấp nước tập trung, mức phục vụ, tổ chức thực hiện. Các cơ quan Nhà nước không làm thay mà chỉ làm nhiệm vụ tư vấn và quản lý.

·        Người sử dụng phải trả các chi phí về xây dựng và quản lý vận hành. Nhà nước chỉ hỗ trợ người nghèo, các gia đình chính sách ưu tiên và một số loại hình công nghệ cần khuyến khích.

·        Các chương trình Thông tin - Giáo dục - Truyền thông hướng dẫn người sử dụng hiểu biết về công nghệ, kỹ thuật, quản lý vận hành, cơ chế  tài chính, tín dụng, để giúp họ ra các quyết định đúng đắn phải được tiến hành trước khi lập dự án hay xây dựng công trình.

·        Cách thức tổ chức quản lý vận hành các công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn dùng chung cho nhiều hộ (ví dụ như hệ thống cấp nước tập trung bằng đường ống) phải được thiết lập một cách cụ thể rõ ràng trước khi xây dựng công trình.

·        Các công nghệ tiên tiến và công nghệ thích hợp (là công nghệ dễ vận hành; sử dụng các phụ tùng thay thế, thiết bị và nguyên vật liệu được sản xuất ở địa phương hoặc trong nước; đã được thử nghiệm và chứng tỏ tính bền vững; không quá đắt, được người sử dụng chấp nhận và không tác động xấu đến môi trường) được Nhà nước khuyến khích giúp đỡ, còn các công nghệ có hại cho sức khỏe và môi trường phải loại bỏ.

 

Nếu trong chỉ đạo Chiến lược không quyết tâm thực hiện các hướng dẫn có tính nguyên tắc này thì rốt cuộc sẽ quay trở lại cách tiếp cận dựa vào cung cấp và không thể đảm bảo được tính bền vững.

 

2.2.5     Phạm vi thực hiện Chiến lược

 

Bao gồm toàn bộ các vùng nông thôn trong cả nước.

 


PHẦN III

 

3.        CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

 

3.1        Thông tin - giáo dục - Truyền thông và tham gia của cộng đồng

 

3.1.1     Tầm quan trọng và mục đích của Thông tin - Giáo dục - Truyền thông

 

Hiện nay, phần lớn dân cư nông thôn còn thiếu hiểu biết về vệ sinh, nước sạch, bệnh tật và sức khoẻ; về môi trường sống xung quanh mình cần phải được cải thiện và có thể cải thiện được.

 

Kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực cho thấy nếu người nông dân nhận thức rõ được vấn đề thì với sự giúp đỡ của Chính phủ, họ có thể vươn lên khắc phục khó khăn, cải thiện được môi trường sống cho mình tốt hơn.

 

Vì vậy, các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông có tầm quan trọng lớn lao đối với thành công của mọi chiến lược phát triển và vai trò cơ bản của Nhà nước trong tương lai là tập trung vào các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông và quản lý hơn là trực tiếp xây dựng các công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

Thông tin - Giáo dục - Truyền thông nhằm các mục đích sau:

 

·      Khuyến khích nâng cao nhu cầu dùng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh.

·      Phát huy nội lực, nâng cao lòng tự nguyện đóng góp tài chính để xây dựng công trình cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh.

·      Cung cấp cho người sử dụng những thông tin cần thiết để họ có thể tự lựa chọn loại công nghệ cấp nước và nhà vệ sinh phù hợp.

·      Nâng cao hiểu biết của người dân về vệ sinh và mối liên quan giữa vệ sinh, cấp nước với sức khoẻ.

 

Hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông được thực hiện ở tất cả các cấp.

 

Để đạt được kết quả mong muốn, Thông tin - Giáo dục - Truyền thông sẽ được tiến hành trên qui mô rộng lớn và ở tất cả các cấp, đặc biệt chú ý cấp xã và thôn bản. Nội dung bao gồm: Các thông tin về sức khoẻ và vệ sinh, các loại công trình cấp nước sạch và vệ sinh khác nhau, các hệ thống hỗ trợ tài chính, cách thức tổ chức các hộ gia đình để xin trợ cấp, vay tín dụng cũng như quản lý các hệ thống cấp nước dùng chung.


Chú ý sự khác biệt giữa các vùng và giới

Hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông phải chú ý sự khác biệt về phong tuc, tập quán, điều kiện kinh tế-xã hội và dân trí giữa các vùng - về địa lý cũng như dân tộc. Mặt khác cần chú ý đến giới, đặc biệt là phụ nữ, vì phụ nữ giữ vai trò chủ chốt trong việc cung cấp nước, giữ gìn vệ sinh và chăm sóc sức khoẻ trong gia đình; nhưng nam giới lại thường là người chủ quyết định các chi tiêu lớn, vì vậy cũng phải được chú ý đúng mức. Ngoài ra, còn phải quan tâm giáo dục vệ sinh, sức khoẻ cho trẻ em.

 

Chú trọng đặc biệt đối với nhà vệ sinh:

Nếu nhà vệ sinh không có hoặc không tốt thì nguồn nước sạch cũng sẽ bị nhiễm bẩn. Do đó, các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông phải đặc biệt chú trọng khuyến khích việc xây dựng và sử dụng đúng các nhà tiêu hợp vệ sinh cũng như làm rõ mối quan hệ giữa công trình vệ sinh, cấp nước với sức khoẻ. Việc coi trọng khâu vệ sinh trong các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông cần được thể hiện cụ thể bằng hỗ trợ tài chính và các mặt khác như xây dựng và tuyên truyền các mô hình mẫu về nhà vệ sinh.

 

Phối hợp giữa các ngành và đáp ứng về tài chính

Để các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông đạt hiệu quả cao, cần có sự tham gia của nhiều Bộ, Ngành và các tổ chức xã hội.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là lực lượng nòng cốt trong công tác Thông tin - Giáo dục - Truyền thông. Các Bộ và các tổ chức xã hội liên quan khác sẽ phối hợp thực hiện theo chức năng của mình.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm lồng ghép các hoạt động  Thông tin - Giáo dục - Truyền thông với các hoạt động khác của Chiến lược như: Công nghệ và kỹ thuật, trợ cấp và tín dụng, tổ chức và phát triển nguồn nhân lực. Cần đặc biệt chú trọng cấp đủ kinh phí cho các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông, điều này về mặt chiến lược còn quan trọng hơn cả việc cấp kinh phí cho xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh.

 

Các cơ sở công cộng như trường học, bệnh viện, chợ, trụ sở cơ quan cần phải có công trình cấp nước và vệ sinh tốt với 3 lý do:

1.    Nếu không sẽ làm mất tác dụng của công tác Thông tin - Giáo dục - Truyền thông, vì lý thuyết không đi đôi với thực hành.

2.    Người dân được tận mắt nhìn thấy những loại công trình có thể xây dựng và học sinh có thể áp dụng lý thuyết được học vào thực hành.

3.    Các cơ sở công cộng là những nơi tập trung đông người, nếu không được sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh thì sẽ dẫn tới nguy cơ lớn mắc các bệnh có liên quan đến nước và vệ sinh.

 

Do đó, việc xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh tại các  cơ sở công cộng là một trong những ưu tiên của Chiến lược và cần được Nhà nước hỗ trợ về tài chính.

 

Các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông then chốt.

1.    Các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông trực tiếp đóng vai trò rất quan trọng, bao gồm việc mở rộng hệ thống tuyên truyền viên cấp nước sạch và vệ sinh do Hội Phụ nữ thiết lập, hợp tác chặt chẽ với mạng lưới y tế cơ sở, UBND xã, những người lãnh đạo các cộng đồng và các đoàn thể quần chúng. Bộ Y tế vẫn tiếp tục và tăng cường các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông liên quan đến nước, nhà tiêu, vệ sinh và bệnh tật thông qua lực lượng nhân viên y tế ở các trạm xá xã, các thôn bản và những người tình nguyện. Tăng cường giáo dục sức khoẻ cơ bản trong nhà trường là một hoạt động then chốt khác nhằm thay đổi hành vi của thế hệ trẻ và được phối hợp chặt chẽ với việc xây dựng các công trình cấp nước và vệ sinh tại các trường học và các cơ sở công cộng.

 

2.    Bên cạnh những hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông trực tiếp còn có các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông được tiến hành thông qua các phương thức khác như:

 

·      Các trạm dịch vụ tư vấn Huyện.

·      Các cơ quan truyền thông đại chúng (đài phát thanh, báo chí, truyền hình).

·      Các chiến dịch truyền thông Quốc gia.

·      Giáo dục sức khoẻ trong trường học

 

Những hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông của Chiến lược quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn cần lồng ghép với chương trình xóa đói giảm nghèo nhằm cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân nông thôn.

 

3.1.2      Khả năng và tự nguyện chi trả

 

Một trong những mục đích của các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông là nâng cao ý thức trách nhiệm đóng góp của người dân cho nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh nhằm phát huy nội lực để tự giải quyết vấn đề. Bởi vì, hiện nay người sử dụng mới chi chưa đầy 1% tổng thu nhập hàng năm của hộ gia đình cho cấp nước sạch và vệ sinh. Trong khi đó Chiến luợc dự kiến các gia đình cần chi khoảng 3 - 5% tổng thu nhập hàng năm cho cấp nước sạch và vệ sinh. Theo nguyên tắc của Chiến lược, người sử dụng phải đóng góp ít nhất 50% cho chi phí xây dựng và chịu toàn bộ chi phí duy tu, bảo dưỡng công trình trong suốt quá trình sử dụng. Khả năng đóng góp của nguời nghèo sẽ rất thấp vì họ phải dành phần lớn thu nhập của mình để mua lương thực, do đó Nhà nước sẽ trợ cấp một phần tài chính cho những đối tượng này để họ có thể xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh. Các hộ khác sẽ được giúp đỡ bằng các khoản vay từ quỹ tín dụng cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

3.1.3      Tổ chức tham gia của cộng đồng

 

Cách tiếp cận dựa vào nhu cầu có nghĩa là hầu hết các hoạt động Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn đều do người sử dụng thực hiện. Vì vậy, người sử dụng phải tự tổ chức thành các nhóm để làm ba việc chính sau đây:

1.   Giúp đỡ lẫn nhau trong việc góp vốn xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh.

2.   Quản lý các hệ thống cấp nước tập trung và các nhà tiêu công cộng.

3.   Nộp đơn xin Nhà nước giúp đỡ về trợ cấp hoặc vay tín dụng.

 

Trong những cộng đồng này, cần chú ý để cả phụ nữ và nam giới đều tham gia vào việc quyết định và có đại diện trong các nhóm. Tuy nhiên, Nhà nước khuyến khích Phụ nữ chiếm ít nhất một nửa số thành viên trong nhóm và được giao những vị trí quan trọng.

 

Đối với các công trình riêng cho từng hộ gia đình, các hộ không đủ kinh phí sẽ phải nộp đơn xin trợ cấp hay vay tín dụng theo nhóm để đơn giản hoá các thủ tục hành chính. Các nhóm này sẽ cùng chịu trách nhiệm sử dụng kinh phí đúng mục đích. Nhà nước khuyến khích các nhóm hoạt động như những tổ tiết kiệm đối với các hộ gia đình phải đóng góp một phần chi phí xây dựng công trình. Các tuyên truyền viên cấp nước sạch và vệ sinh sẽ giúp hình thành các nhóm người sử dụng và hỗ trợ các nhóm này làm đơn xin trợ cấp hay vay tín dụng và theo dõi việc sử dụng kinh phí đúng mục đích.

 

Đối với các công trình dùng chung cho một số hộ (hệ thống cấp nước tập trung nhỏ), người sử dụng phải tự quản lý công trình và lập thành nhóm để xin trợ cấp tài chính và vay tín dụng, cũng như để tổ chức việc thiết kế, thi công, chi trả kinh phí xây dựng, vận hành, bảo dưỡng các công trình đó. Các hệ thống cấp nước tập trung quy mô lớn cần phải có những tổ chức chính thức hơn, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, người sử dụng vẫn giữ vai trò làm chủ và sẽ phải tự tổ chức để có thể tham gia quản lý công trình.

 

3.1.4      Bảo vệ người sử dụng

 

Người sử dụng là các hộ nông dân không có hiểu biết sâu về kỹ thuật cấp nước sạch và vệ sinh, song họ lại đóng vai trò chính là người chủ sở hữu và quản lý công trình cấp nước sạch và vệ sinh riêng của mình. Do đó, cần có một hệ thống pháp quy về quản lý và hỗ trợ thích hợp để bảo vệ lợi ích cho họ trong cơ chế thị trường. Cụ thể là:

 

·      Các quy định về chất lượng thi công, chất lượng nước và hoá chất dùng để xử lý nước. Hiện nay đã có một số qui định nhưng chưa hoàn chỉnh và thiếu một hệ thống thực thi phù hợp. Việc thực hiện Chiến lược bao gồm cả việc soạn thảo và ban hành các qui định chi tiết phù hợp và hệ thống thực thi kèm theo.

·      Các hướng dẫn và kiểm tra chuyên môn về các loại công trình cấp nước sạch và vệ sinh để người sử dụng có thể lựa chọn.

 

Bảo vệ người sử dụng là một yêu cầu rất quan trọng của chiến lược, bởi vì cơ sở của Chiến lược là lấy người sử dụng làm trung tâm, tạo khả năng cho người sử dụng đưa ra những quyết định đúng đắn và quản lý các nhà thầu cũng như đảm bảo hoạt động của các hệ thống cấp nước tập trung. Vì vậy, các cơ quan hữu trách cần chú ý đúng mức đến việc bảo vệ người sử dụng và giúp đỡ người sử dụng tuân thủ các qui định và hướng dẫn của Nhà nước.

 

3.2        Cải tiến tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển nguồn nhân lực

 

3.2.1     Cải tiến tổ chức

 

Một số nguyên tắc chung

·           Các cơ quan Nhà nước sẽ không tham gia vào những hoạt động mang tính sản xuất kinh doanh mà chỉ làm nhiệm vụ quản lý Nhà nướctư vấn cho người sử dụng.

·           Tận dụng và phát huy các tổ chức hiện có kể cả các đoàn thể quần chúng, cộng đồng dân cư ở các cấp đến tận thôn xóm, làng bản.

·           Tập trung trách nhiệm chỉ đạo thực hiện Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn vào một Bộ chủ quản là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

·           Điều chỉnh lại cho hợp lý và phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các Bộ, Ngành, tổ chức xã hội và có cơ chế phối hợp tốt.

·           Phân cấp thực hiện cho tới cấp thấp nhất thích hợp gắn liền với các tổ chức cộng đồng.

 

Trách nhiệm của cấp Trung ương - các Bộ và các tổ chức xã hội

 

Trách nhiệm của cấp Trung ương:

·        Đề ra các chính sách, cơ chế và kế hoạch phát triển Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn, đồng thời quản lý, thanh tra, kiểm tra việc thực thi các chính sách và cơ chế đó.

·        Điều phối chung việc thực hiện Chiến lược Quốc gia, phối hợp chặt chẽ các Bộ, Ngành, các tổ chức xã hội và các nhà tài trợ.

·        Thành lập quỹ tín dụng, quỹ hỗ trợ để đảm bảo đủ kinh phí Nhà nước cho việc thực hiện Chiến lược.

·        Tiến hành Thông tin - Giáo dục - Truyền thông, đào tạo phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

·        Theo dõi và đánh giá việc thực hiện Chiến lược, cập nhật và điều chỉnh Chiến lược sau từng kế hoạch 5 năm cho phù hợp với thực tiễn và tình hình mới.

 

Trách nhiệm của cấp Trung ương được phân công cụ thể cho một số Bộ và tổ chức xã hội có liên quan chính như sau:

 

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan đầu mối chủ trì phối hợp các Bộ trong việc thực hiện Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn, chịu trách nhiệm :

 

·      Điều phối thực hiện các chương trình, dự án Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

·      Điều phối chung về Thông tin - Giáo dục - Truyền thông.

·      Phát triển nguồn nhân lực và đào tạo.

·      áp dụng thí điểm và hướng dẫn về công nghệ.

·      Điều phối các quỹ trợ cấp và tín dụng.

·      Điều phối việc sử dụng các nguồn tài trợ thực hiện chương trình quốc gia theo các hướng ưu tiên.

·      Theo dõi cụ thể việc thực hiện và cập nhật Chiến lược quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

·      Lập và chỉ đạo thực hiện kế hoạch phòng chống thiên tai.

 

Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính làm các chức năng: phân bổ các nguồn vốn, điều phối kinh phí chung và điều phối các nguồn tài trợ bao gồm cả việc điều phối Ngân sách Nhà nước hàng năm cho lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn và cho các dự án được tài trợ.

 

Bộ Y tế  đóng vai trò chủ yếu trong các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông và nâng cao nhận thức về vệ sinh và sức khỏe, ban hành các tiêu chuẩn về chất lượng nước, nhà tiêu hợp vệ sinh; đề ra các qui định về tái sử dụng phân người làm phân bón. Đồng thời tổ chức việc giám sát kiểm tra chất lượng nước và các công trình vệ sinh, giám sát việc thực hiện các tiêu chuẩn chất lượng CNS và vệ sinh. Bộ Y tế có trách nhiệm hoàn chỉnh và tận dụng bộ máy y tế cơ sở vào thực hiện nhiệm vụ bảo đảm vệ sinh nông thôn.

 

Bộ Xây dựng vẫn giữ chức năng quản lý Nhà nước về xây dựng cơ bản, giám sát và điều chỉnh kỹ thuật xây dựng đối với các công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường chịu trách nhiệm về nghiên cứu phát triển các công nghệ tiên tiến, giải quyết các khó khăn tồn tại về công nghệ cấp nước sạch và vệ sinh, chuyển giao công nghệ cấp nước sạch và vệ sinh và bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm các nguồn nước

 

Bộ Giáo dục và đào tạo nghiên cứu đưa giáo dục sức khoẻ, cấp nước sạch và vệ sinh môi trường vào các trường học. Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế và Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo cho lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh môi trường để đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của xã hội.

 

Các tổ chức quần chúng, nhất là Hội phụ nữ, tham gia theo chức năng của mình, đặc biệt là tham gia các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông, huy động cộng đồng tham gia tích cực xây dựng, vận hành và quản lý các công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn, tham gia hoạt động tín dụng cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn. Giúp người sử dụng tự thành lập các nhóm hoặc các hợp tác xã về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

 Trách nhiệm của các cấp hành chính Tỉnh, Huyện, Xã

 

Cấp Tỉnh

UBND tỉnh là cơ quan có trách nhiệm và có thẩm quyền cao nhất đối với việc thực hiện Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ở mỗi tỉnh; thiết lập cơ cấu tổ chức phù hợp ở địa phương; lập chương trình kế hoạch cấp nước sạch và vệ sinh, chỉ đạo điều phối các ngành trong tỉnh và chỉ đạo cấp huyện thực hiện kế hoạch Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn, đảm bảo nguồn kinh phí thoả đáng cho lĩnh vực này. Một nhiệm vụ quan trọng khác của cấp tỉnh là phối hợp với các Bộ, Ngành, Trung ương và các nhà tài trợ thu hút các nguồn vốn và trợ giúp kỹ thuật nhằm đẩy mạnh việc phát triển cấp nước sạch và vệ sinh.

 

Cấp Huyện

Cấp huyện sẽ là cấp thực hiện chủ yếu với các chức năng như: Lập kế hoạch chi tiết và tổ chức thực hiện cấp nước sạch và vệ sinh trong huyện, tư vấn cho người sử dụng về các loại hình công nghệ, về cơ chế và thủ tục tài chính và các hỗ trợ khác thông qua Trung tâm tư vấn cấp nước sạch và vệ sinh huyện. Quản lý hệ thống tín dụng và trợ cấp thông qua các ngân hàng cấp huyện; hướng dẫn các nhóm người sử dụng quản lý việc xây dựng và vận hành các hệ thống cấp nước tập trung.

 

Cấp Xã

Là cấp hành chính cơ sở gần gũi nhất với người dân sẽ phối hợp với người sử dụng, nhóm người sử dụng, các tổ chức quần chúng, nhất là Hội phụ nữ và các ngân hàng để thực hiện phần lớn chức năng hỗ trợ của Nhà nước đối với Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn. Cấp xã là người điều phối và tư vấn cho người sử dụng, là người tổ chức thực hiện kế hoạch Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn của xã mình.

Thôn xóm, làng bản, ấp

Tuy không phải là một cấp hành chính nhưng là đơn vị dân cư chủ yếu ở nông thôn gắn liền với cộng đồng. Đây sẽ là cầu nối quan trọng giữa cấp xã và người sử dụng. Đồng thời đây cũng là đơn vị phù hợp nhất để xây dựng các hệ thống cấp nước tập trung quy mô nhỏ, huy động cộng đồng dân cư tham gia tích cực.

 

3.2.2     Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước

 

Cần tạo lập một môi trường pháp lý thuận lợi để huy động sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, đồng thời quản lý tốt các hoạt động trong lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn. Một môi trường như vậy cần phải:

·      Có đầy đủ các văn bản pháp quy.

·      Có bộ máy đủ mạnh để thực thi pháp luật, để xử phạt và cưỡng chế khi cần thiết.

·      Có chính sách khuyến khích các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức quần chúng và mọi người dân thi hành luật lệ.

 

Ban hành hệ thống văn bản pháp quy, bao gồm:

 

·      Các văn bản dưới luật để thực hiện luật tài nguyên nước, luật bảo vệ môi trường và luật bảo vệ sức khỏe nhân dân.

·      Điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của các tổ chức có liên quan đến lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn trong chỉ thị 200TTg làm cho chỉ thị này được cập nhật phù hợp với tình hình mới và Chiến lược.

·      Ban hành các chính sách khuyến khích xã hội hóa như cấp phép, cấp đất, thu thuế, lệ phí, cho vay tín dụng, bảo hiểm, nhằm khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia phát triển Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn theo định hướng của Nhà nước.

·      Cập nhật những tiêu chuẩn và các hướng dẫn cụ thể liên quan đến Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn như tiêu chuẩn nước sạch, các loại nhà tiêu hợp vệ sinh, quy trình và thủ tục khoan giếng .

·      Hoàn thiện các quy định về hợp đồng và đấu thầu xây dựng phù hợp với đặc điểm của công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn, đảm bảo  công bằng đối với các thành phần kinh tế tham gia.

·      Hoàn thiện và giám sát môi trường kinh doanh của khu vực tư nhân.

·      Các quy định về bảo vệ người tiêu dùng.

·      Ban hành những tiêu chuẩn và hướng dẫn về chất lượng đối với việc cung cấp máy móc thiết bị, nguyên vật liệu phụ tùng.

·      Cải tiến các quy trình lập kế hoạch, phê duyệt và cung cấp tài chính.

·      Ban hành các cơ chế về trợ cấp và cho vay tín dụng.

·      Ban hành các quy định của tỉnh về xây dựng cơ bản, bảo vệ môi trường và sức khoẻ cho sát với các điều kiện của địa phương.

 

 Công tác quy hoạch

Trên cơ sở Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn, khẩn trương lập quy hoạch tổng thể cấp nước sạch và vệ sinh các khu dân cư nông thôn, chú ý đầy đủ tới các điều kiện tự nhiên, xã hội của từng vùng.

 

 Tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp nhà nước và khu vực tư nhân tham gia phát triển Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn

Khu vực tư nhân và các doanh nghiệp Nhà nước sẽ đảm bảo toàn bộ việc thi công cũng như các dịch vụ Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn trong tương lai, do đó cần tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp Nhà nước và khu vực tư nhân hoạt động như:

 

·        Cải thiện môi trường kinh doanh để khu vực tư nhân có thể tham gia bình đẳng với doanh nghiệp Nhà nước.

·        Nâng cao năng lực của khu vực tư nhân về kỹ thuật cũng như nghiệp vụ kinh doanh.

·        Hoàn thiện các hệ thống quản lý xây dựng để các hợp đồng thi công có thể được đấu thầu và quản lý một cách rõ ràng và công bằng.

·        Tăng cường các qui định để bảo vệ quyền lợi người sử dụng, không bị các cơ sở vì lợi nhuận lạm dụng.

 

Các công ty cấp nước và các doanh nghiệp Nhà nước khác tham gia vào lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh sẽ có thẩm quyền ngày càng lớn hơn đối với quản lý tài sản và quyền tự chủ về tài chính.

 

Cải thiện môi trường kinh doanh đối với khu vực tư nhân để họ có những cơ hội thuận lợi để cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp Nhà nước, đó là:

·      Công bằng về thuế giữa các doanh nghiệp Nhà nước và công ty tư nhân,

·      Bình đẳng về hạn mức tín dụng trong hệ thống ngân hàng,

·      Tăng cường quản lý bằng pháp luật đối với đấu thầu cạnh tranh và thưởng phạt hợp đồng.

 

 Tổ chức các hệ thống cấp nước tập trung

Hiện nay, các hệ thống cấp nước tập trung thường do các công ty cấp nước của tỉnh, do UBND huyện hoặc do các hợp tác xã làm chủ đầu tư xây dựng và quản lý, song hiện nay ngày càng có nhiều trường hợp do một nhà đầu tư tư nhân quản lý. Tuy nhiên, người chủ thực sự của hệ thống cấp nước lại là người sử dụng. Đến nay vẫn chưa có quy định rõ ràng về quyền sở hữu, quyền giám sát và quyền quản lý hoạt động, do vậy chưa thúc đẩy được việc đầu tư xây dựng và quản lý vận hành loại công trình cấp nước tập trung có rất nhiều triển vọng phát triển này.

 

Cần xây dựng cơ chế nhằm nâng cao vai trò làm chủ của người sử dụng trong việc kiểm tra giám sát mọi hoạt động của các hệ thống cấp nước tập trung. Đồng thời có chính sách khuyến khích đầu tư, cho vay tín dụng, thành lập các đơn vị có tư cách pháp nhân như hợp tác xã, công ty TNHH để xây dựng cũng như quản lý vận hành các hệ thống cấp nước tập trung ở nông thôn.

 

3.2.3     Phát triển nguồn nhân lực

 

Chiến lược đòi hỏi những thay đổi cơ bản trong cách nghĩ và hành động của các nhân viên công tác trong lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn do phải chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường và từ cách tiếp cận dựa vào cung cấp sang cách tiếp cận theo nhu cầu. Ngoài nhiệm vụ đào tạo, việc phát triển nguồn nhân lực còn bao gồm những khía cạnh rộng hơn như tuyển mộ nhân viên và phát triển nghề nghiệp.

 

Mục đích của phát triển nguồn nhân lực:

·        Cung cấp đủ và sắp xếp lại cho hợp lý cán bộ nhân viên trong lĩnh vực cho phù hợp với nghề nghiệp và yêu cầu nhiệm vụ sắp tới.

·        Bồi dưỡng cho cán bộ ở Trung ương và địa phương về Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn, các kiến thức và kỹ năng về lập chương trình, kế hoạch, điều phối, quản lý theo cách tiếp cận dựa trên nhu cầu đối với Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

·        Huấn luyện nhân viên chịu trách nhiệm thực thi ở các cấp huyện, xã để thực hiện tốt vai trò mới của mình.

 

Phương hướng phát triển nguồn nhân lực:

Phát triển nguồn nhân lực rộng khắp ở mọi cấp sẽ được thực hiện với tất cả cán bộ nhân viên trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường, kể cả những cán bộ chủ chốt ở Trung ương cũng như cấp tỉnh, cấp huyện. Các cán bộ chủ chốt phải nắm vững những nguyên tắc và cách tiếp cận mới của Chiến lược. Nhân viên ở cấp huyện và cấp cơ sở là những người trực tiếp thực hiện Chiến lược phải thấu hiểu Chiến lược và có các kỹ năng tốt thực hiện Chiến lược.

 

Phát triển nguồn nhân lực toàn diện và theo kế hoạch

Lập kế hoạch đào tạo đồng bộ và toàn diện cho các loại cán bộ: chỉ đạo, quản lý, lập kế hoạch, chương trình; kỹ thuật, tài chính, tín dụng, ngân hàng cho đến nhân viên quản lý và công nhân vận hành, sửa chữa bảo dưỡng.

 

Việc đào tạo sẽ chú trọng tới dạy thực hành hơn là lý thuyết đơn thuần, chú trọng đào tạo tại chỗ kết hợp giữa giảng dạy ở lớp với hướng dẫn thực hành tại hiện trường. Kế hoạch đào tạo sẽ được thiết kế toàn diện theo nhu cầu nhưng cần đề cập đến các kỹ năng sau:

 

·      Lập kế hoạch và quản lý thực hiện theo cách tiếp cận dựa trên nhu cầu.

·      Các kỹ năng tư vấn và Thông tin - Giáo dục - Truyền thông.

·      Đánh giá toàn diện các dự án, kể cả nghiên cứu khả thi.

·      Lập kế hoạch về tài chính.

·      Theo dõi và đánh giá thực hiện dự án.

·      Các kỹ năng cụ thể về kỹ thuật như: đánh giá nguồn nước, xét nghiệm chất lượng nước, vận hành và bảo dưỡng.

 

Chế độ đãi ngộ được chú ý để ổn định và thu hút được cán bộ, nhân viên giỏi công tác ở cấp tỉnh và cơ sở. Khuyến khích các nhân viên trẻ làm việc ở cấp huyện, Nhà nước coi trọng kinh nghiệm công tác ở cấp cơ sở, tạo điều kiện cho họ phát triển.

 

Phối hợp các hoạt động phát triển nguồn nhân lực ở các Bộ, Ngành vì mỗi Bộ, Ngành đều có những cơ sở đào tạo riêng của mình, nhưng cần chú ý tới chương trình đào tạo cán bộ, nhân viên cho lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn. Nhà nước cả Trung ương và Tỉnh cần bảo đảm nguồn kinh phí thoả đáng cho đào tạo trong lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

Nâng cao năng lực đào tạo

 

Hiện nay, hầu hết các cơ sở đào tạo đều thiếu các trang thiết bị và cán bộ giảng dạy để đào tạo những kỹ năng tư vấn cần thiết cho Chiến lược mới. Vì vậy cần nâng cao năng lực đào tạo hiện có ở các cấp trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường, bao gồm: Các cơ sở đào tạo bậc đại học, trung học chuyên nghiệp và trung tâm dạy nghề của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục đào tạo và một số Bộ khác.

3.3        Đổi mới cơ chế tài chính, huy động nhiều nguồn vốn để Phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn

 

3.3.1     Huy động các nguồn vốn trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn.

 

Cấp nước và vệ sinh nông thôn phục vụ cho việc nâng cao sức khoẻ, giảm thiểu các bệnh tật do thiếu nước sạch và kém vệ sinh gây ra, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho mọi gia đình. Đó là sự nghiệp của toàn dân, vì vậy cần xã hội hoá công tác này, huy động mọi nguồn vốn trong nước, phát huy nội lực, đồng thời thu hút vốn nước ngoài cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn. Bao gồm:

 

·      Các hộ gia đình dành một phần thu nhập thỏa đáng (3 - 5%) đầu tư cho công trình cấp nước và công trình vệ sinh dưới các hình thức: xây dựng riêng cho từng hộ, cho một nhóm hộ hoặc xây dựng hệ thống cấp nước tập trung cho cả thôn, xã.

·      Khuyến khích khu vực tư nhân và các thành phần kinh tế khác đầu tư xây dựng công trình cấp nước tập trung với chính sách ưu đãi như giảm thuế hoặc miễn thuế, được vay một phần vốn với lãi suất thấp.  Đồng thời có chính sách bảo hộ người đầu tư.

 

·      Thu hút vốn từ nước ngoài của các nhà tài trợ đa phương, song phương, các tổ chức phi Chính phủ dưới hình thức vốn vay tín dụng, vốn tài trợ không hoàn lại, kể cả vốn đầu tư kinh doanh công trình cấp nước  của các hãng tư nhân.

 

·      Nhà nước dành ngân sách thích đáng cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn dưới hình thức vốn trợ cấp và vốn vay tín dụng ưu đãi.

 

Hiện nay đã có một số luật như: Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật khuyến khích nước ngoài đầu tư, Luật ngân sách, Luật Ngân hàng, Luật Tài nguyên nước, Luật bảo vệ môi trường.

 

Cần sớm có thông tư hướng dẫn cụ thể và chính sách ưu tiên rõ ràng để các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tích cực đầu tư vào lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

Cơ chế tài chính phát huy nội lực dựa trên nguyên tắc người sử dụng phải đóng góp phần lớn chi phí xây dựng công trình và toàn bộ chi phí vận hành, duy tu bảo dưỡng và quản lý. Nghiên cứu ban hành khung giá nước đối với hệ thống cấp nước tập trung nhằm đảm bảo cho các công ty cấp nước (Nhà nước và tư nhân) tự chủ về tài chính, đồng thời bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, để giúp đỡ người nghèo và gia đình thuộc diện chính sách ưu tiên và những nơi có khó khăn đặc biệt, Nhà nước cần có hệ thống trợ cấp vốn cho các đối tượng nêu trên và cho vay tín dụng để giúp đỡ nhân dân xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh.

 

3.3.2      Hệ thống trợ cấp của Nhà nước

 

Hệ thống trợ cấp của Nhà nước được thành lập nhằm các mục đích:

 

1.   Hỗ trợ người nghèo và gia đình thuộc diện chính sách ưu tiên Tất cả các hộ được chính thức xác định là hộ nghèo hoặc rất nghèo và gia đình thuộc diện chính sách ưu tiên theo tiêu chuẩn của Bộ Lao động thương binh - xã hội sẽ được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí cho xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh. Mức hỗ trợ của Chính phủ khoảng 60% chi phí xây dựng đối với công trình cấp nước và 50% chi phí đối với công trình vệ sinh, nếu các hộ tự nguyện đóng góp phần chi phí còn lại và bảo đảm rằng các công trình cấp nước sạch và vệ sinh được xây dựng, vận hành và bảo dưỡng tốt. Đối với hộ rất nghèo mức hỗ trợ của Chính phủ có thể tăng lên 80% cho công trình cấp nước và 70% cho công trình vệ sinh. Đối với những địa bàn đặc biệt khó khăn về cấp nước và vệ sinh như nơi bị hạn hán, nơi khan hiếm nguồn nước, vùng bị nhiễm mặn, vùng núi cao, vùng nước bị ô nhiễm, vùng lũ lụt, Nhà nước sẽ xem xét riêng để tăng mức hỗ trợ.

 

[Ước tính hiện nay có khoảng 20% - 25% số hộ ở nông thôn sẽ được hưởng khoản trợ cấp cho người nghèo và gia đình thuộc diện chính sách ưu tiên và khoảng 10% số hộ sống ở các địa bàn có khó khăn đặc biệt về cấp nước sạch và vệ sinh.]

 

2.   Hỗ trợ việc xây dựng các hệ thống cấp nước tập trung : hệ thống cấp nước tập trung là loại hình cấp nước công nghiệp và hiện đại, có thể bảo đảm được chất lượng nước tốt, phát triển bền vững, sử dụng tiện lợi góp phần xây dựng nông thôn mới văn minh theo hướng đô thị hoá, giảm bớt  cách biệt giữa thành thị và nông thôn. Các hệ thống này rất thích hợp với vùng đông dân có mật độ dân số cao như các thôn, ấp đông dân và các làng chài ở vùng đồng bằng, ven biển, các làng ven đô của thành phố lớn và các thị trấn, thị tứ.

 

[Quá trình phát triển nông nghiệp - nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng là quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn: Các trang trại trồng trọt và chăn nuôi, các làng nghề, các khu công nghiệp chế biến nông sản, các trung tâm thương mại, dịch vụ sẽ được hình thành và phát triển. Đồng thời cơ sở hạ tầng nông thôn như đường xá, cấp nước, cấp điện, thông tin liên lạc cũng phát triển. Điều này sẽ tác động mạnh mẽ đến quá trình tích tụ dân cư; các điểm dân cư manh mún, phân tán và dân du canh du cư sẽ từng bước tập trung vào các điểm dân cư lớn hơn (khoảng trên 1000 dân). Hệ thống cấp nước tập trung sẽ đáp ứng yêu cầu của các khu dân cư tập trung nêu trên. Nhà nước (Trung ương và địa phương) sẽ hỗ trợ chi phí xây dựng các hệ thống cấp nước tập trung ở nông thôn nhằm khuyến khích các cộng đồng dân cư góp vốn và nhân lực xây dựng loại công trình này. Mức hỗ trợ của Nhà nước sẽ được xem xét ấn định tuỳ theo điều kiện cụ thể và có thể lên tới 40% chi phí xây dựng cho những năm trước mắt và những năm sau có thể giảm dần].

 

Người sử dụng có thể được vay tiền của quỹ tín dụng Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn để chi trả cho phần họ phải đóng góp. Đối với người nghèo và rất nghèo ngoài kinh phí hỗ trợ cho hệ thống cấp nước tập trung vẫn nhận được khoản hỗ trợ dành cho người nghèo để họ chi trả phần vốn đóng góp của mình vào công trình cấp nước tập trung và đường ống nhánh tới nhà.

 

Hỗ trợ những trường hợp đặc biệt

 

Ngoài hai trường hợp nêu trên, nói chung người sử dụng phải chi trả toàn bộ chi phí xây dựng, vận hành và bảo dưỡng. Tuy nhiên, đối với một số dự án đặc biệt Nhà nước sẽ lựa chọn để chi trả phần lớn chi phí mà tối đa có thể tới 90%.

 

Các dự án đặc biệt rất hạn chế chỉ dành cho các vùng rất khó khăn về cấp nước như vùng bị hạn hán, hải đảo, vùng núi cao, vùng biên giới, vùng nhiễm mặn hoặc các dự án đã được nhà tài trợ lựa chọn.

 

Kết quả tổng hợp là Nhà nước và các nhà tài trợ sẽ đóng góp khoảng 1/3 chi phí xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh. Còn người sử dụng, tức các hộ nông dân sẽ đóng góp 2/3 chi phí xây dựng và chịu toàn bộ chi phí quản lý vận hành.

 

Người sử dụng sẽ thành lập các nhóm hoặc hợp tác xã (tự nguyện) để làm đơn đề nghị Nhà nước trợ cấp vốn và vay vốn tín dụng. Các nhóm này chịu trách nhiệm sử dụng tiền hỗ trợ đúng mục đích và có hiệu quả, đồng thời tương trợ lẫn nhau trong việc xây dựng công trình cấp nước và nhà vệ sinh ở các hộ gia đình cũng như các hệ thống cấp nước tập trung. Nếu sử dụng tiền trợ cấp không đúng mục đích thì các hộ còn lại trong nhóm sẽ không nhận được trợ cấp nữa.

 

Việc chi trợ cấp sẽ được thực hiện thông qua ngân hàng Huyện và dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính quyền xã và theo quy chế của Sở Lao động thương binh - xã hội. Chính quyền xã phối hợp với các đoàn thể quần chúng xác nhận các hộ được trợ cấp và theo dõi việc sử dụng tiền  trợ cấp đúng mục đích.

 

3.3.3     Hệ thống tín dụng được Nhà nước hỗ trợ

 

Phần lớn chi phí xây dựng các công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn do người sử dụng chi trả, họ cần được vay tiền để trang trải cho việc xây dựng công trình. Nhà nước sẽ thành lập một hệ thống tín dụng cho cấp nước và vệ sinh nông thôn. Người sử dụng sẽ dùng khoản tiết kiệm từ thu nhập của mình để trả một phần chi phí xây dựng (ít nhất là 25-30%) và chỉ được vay 70 - 75% chi phí xây dựng công trình. Thời hạn vay từ 3 đến 5 năm. Hệ thống tín dụng bao gồm quỹ của Trung ương và của tỉnh. Quỹ này sẽ cho các ngân hàng tỉnh và ngân hàng huyện vay với lãi suất thấp hơn lãi suất thương mại, sao cho lãi suất cho người sử dụng vay cộng với chi phí quản lý vẫn thấp hơn lãi suất thương mại để khuyến khích nhân dân vay vốn đầu tư xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh. Đây là loại tín dụng ưu đãi (tín dụng chỉ định) có thể gặp nhiều rủi ro trong thu hồi vốn, nhưng Nhà nước cần dành tỷ lệ thích đáng loại tín dụng này cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

Nhà nước có thể sử dụng vốn viện trợ song phương, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ đa phương và một phần ngân sách của Chính phủ dành cho quỹ tín dụng với lãi suất thấp để cung cấp tài chính cho hệ thống tín dụng này.

 

Hệ thống ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn có đội ngũ cán bộ tới cấp cơ sở sẽ chịu trách nhiệm chính triển khai tín dụng cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn. Ngân hàng cho người nghèo, ngân hàng cổ phần cũng có thể tham gia cho vay tín dụng Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn, nhưng cần phối hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ ở các huyện và các xã mới có thể thực hiện tốt quỹ tín dụng quay vòng.

 

3.3.4      Trợ giúp quốc tế

 

Cần hết sức tranh thủ  trợ giúp quốc tế. Trợ giúp của các nhà tài trợ nước ngoài cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn sẽ được sử dụng vào những mục đích sau:

 

·    Dự án trợ giúp kỹ thuật bao gồm những nghiên cứu sơ bộ và những dự án tạo tiền đề như Thông tin - Giáo dục - Truyền thông, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng cơ chế tài chính, các thực nghiệm và hướng dẫn công nghệ.

 

·    Chương trình thí điểm Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ở các tỉnh được lựa chọn tiêu biểu cho những vùng và từ đó nhân rộng ra toàn quốc.

 

·    Hỗ trợ tài chính cho các công trình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn theo các hình thức như:

- Đóng góp chung cho quỹ  trợ cấp và quỹ tín dụng: Các nhà tài trợ đa phương thường đóng góp vào quỹ trợ cấp và quỹ tín dụng, một số nhà tài trợ song phương thì muốn đóng góp vào quỹ trợ cấp, nhất là trợ cấp cho người nghèo. Các quỹ này sẽ hoạt động theo một quy chế rõ ràng và được giám sát chặt chẽ ở các cấp.

 

- Trợ cấp cho các dự án hoặc một khu vực. Nhà tài trợ có thể giúp đỡ một tỉnh phát triển Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn dưới hình thức một chương trình hoặc một dự án được lựa chọn phù hợp với mục đích và những ưu tiên của nước họ. Tuy nhiên, cần tuân thủ các nguyên tắc và cơ chế tài chính của Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

Việc điều phối các nguồn tài trợ được thực hiện như sau:

 

1.    Trước hết ở cấp điều phối Trung ương: Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ điều phối sự trợ giúp của các nhà tài trợ vào các chương trình theo định hướng của Chính phủ.

 

2.    Ở cấp thực hiện quốc gia: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ điều phối nguồn tài trợ thực hiện chương trình quốc gia theo các hướng ưu tiên và các chương trình thí điểm Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

3.3.5     Cơ chế tài chính

 

Chiến lược quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn sẽ áp dụng 2 loại cơ chế tài chính:

·        Cơ chế cấp kinh phí thông thường để thực hiện các kế hoạch nhà nước, bao gồm việc phân bổ ngân sách cho các tỉnh và các ngành Trung ương để thực hiện Thông tin - Giáo dục - Truyền thông, phát triển nguồn nhân lực, hướng dẫn công nghệ và chi phí đầu tư xây dựng công trình. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính điều phối nguồn kinh phí sao cho sử dụng có hiệu quả và đảm bảo công bằng xã hội.

·        Cơ chế riêng cho các hệ thống trợ cấp và hệ thống tín dụng đã được trình bày ở phần trên.

 

Cả hai cơ chế này đều phải hoạt động trên một nền tảng chung là phát huy nội lực, thực hiện xã hội hoá và thị trường hóa mà sẽ được cụ thể bằng các chính sách.

3.4        Nghiên cứu phát triển và áp dụng công nghệ thích hợp

 

3.4.1     Nghiên cứu phát triển

 

Cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu phát triển trong lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn theo các nguyên tắc sau:

1.   Các đề tài nghiên cứu phải xuất phát từ những nhu cầu được xác định rõ ràng của lĩnh vực, đồng thời sử dụng phương pháp phối hợp đa ngành. Thái độ và hành vi của người sử dụng cũng cần được xem xét và thử nghiệm trong các nghiên cứu phát triển công nghệ vì họ là trung tâm của Chiến lược.

2.   Việc thử nghiệm thí điểm sẽ là một chức năng quan trọng của nghiên cứu và sẽ được tiến hành như một phần của quá trình thực hiện Chiến lược.

3.   Việc nghiên cứu sẽ được tiến hành một cách có hệ thống:

·      Xem xét lại và cải tiến nâng cao các công nghệ truyền thống.

·      Xem xét những kinh nghiệm quốc tế, tiếp thu và áp dụng một cách có chọn lọc. Không chỉ dừng lại ở sao chép các kết quả, mà còn điều chỉnh và tiếp tục phát triển cho phù hợp với điều kiện của nước ta.

·      Khuyến khích áp dụng các công nghệ tiên tiến để góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn và làm giảm bớt  cách biệt giữa thành thị với nông thôn về cấp nước sạch và vệ sinh.

·      Nghiên cứu điển hình hóa, tiêu chuẩn hóa các loại hình cấp nước tập trung sử dụng nước ngầm và nước mặt với quy mô khác nhau ở các vùng, giới thiệu cho cộng đồng dân cư lựa chọn áp dụng. Các thiết kế điển hình đã được chấp nhận cần được áp dụng, đưa vào sản xuất công nghiệp nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành và rút ngắn thời gian thi công.

·      Việc nghiên cứu sẽ không bị giới hạn chỉ ở công nghệ mà bao gồm cả những cách tiếp cận và hệ thống đối với Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn cũng như Thông tin - Giáo dục - Truyền thông, phát triển nguồn nhân lực và mô hình quản lý.

·      Khuyến khích việc nghiên cứu và sản xuất vật tư thiết bị trong nước phục vụ cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

·      Nghiên cứu các giải pháp phòng chống thiên tai.

 

3.4.2     Lựa chọn và áp dụng công nghệ thích hợp

Giới thiệu các công nghệ khác nhau cho người sử dụng có tác dụng rất lớn vì giúp cho họ có được kiến thức cần thiết để quyết định lựa chọn loại công nghệ phù hợp. Việc giới thiệu các công nghệ gồm hai phần:

 

Thứ nhất,  đánh giá những ưu, khuyết điểm của các loại công nghệ có thể được áp dụng nhằm giúp người sử dụng lựa chọn công nghệ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Các công nghệ cụ thể sẽ không được chọn trước hay giới thiệu như những giải pháp duy nhất, mà thay vào đó sẽ đưa ra một hệ thống các quan điểm và tiêu chuẩn về những ưu điểm và khuyết điểm của các loại công nghệ khác nhau. Trên cơ sở những quan điểm và tiêu chuẩn đó, người sử dụng sẽ tự lựa chọn công nghệ cho mình.

 

Thứ hai, các công nghệ có hại cho sức khỏe cần phải loại bỏ. Ngoài giải pháp dùng các văn bản pháp luật để cấm một số loại công nghệ, các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông sẽ góp phần nêu rõ tác hại của các loại công nghệ này và khuyến khích các hành vi sử dụng phù hợp.

 

3.4.3     Về cấp nước sạch

 

Các loại công nghệ cấp nước thông dụng

Trong tương lai sẽ phát triển cấp nước nông thôn bằng cách đa dạng hoá các loại hình công nghệ phù hợp với điều kiện và đặc điểm của các vùng như:

·    Giếng khoan, giếng khơi có hoặc không có công trình xử lý, sử dụng bơm tay hoặc bơm điện và giếng làng cải tiến phục vụ cho một nhóm hộ gia đình.

·    Bể hoặc lu chứa nước mưa cho từng hộ gia đình.

·    Hệ thống cấp nước tập trung bằng đường ống, cấp nước cho một số hộ gia đình hoặc cả một làng, xã, thị trấn như: hệ thống cấp nước tự chảy hoặc hệ thống cấp nước sử dụng bơm động lực. Tuỳ điều kiện từng nơi mà có thể nối mạng cấp nước đến từng hộ gia đình hoặc chỉ đưa nước đến bể chứa và vòi công cộng. Các hệ thống cấp nước tập trung bằng đường ống có sử dụng  bơm động lực là loại hình công nghệ tiên tiến gần với đô thị sẽ được khuyến khích sử dụng  rộng rãi ở các thị trấn, thị tứ cũng như các làng xã có dân cư đông đúc và phân bổ gọn. (Dự tính đến năm 2020 sẽ có khoảng 40% số hộ ở nông thôn và đô thị loại 5 sử dụng các hệ thống cấp nước tập trung).

 

Cấp nước ở những vùng có nhiều khó khăn

 

 Cấp nước tại vùng bị nhiễm mặn : Đây là vùng rộng lớn, gồm miền Duyên hải và các hải đảo. Không có giải pháp chung, tuỳ điều kiện từng nơi có thể chọn một trong các giải pháp sau:

·      Nước mưa: Thường chỉ đủ dùng cho ăn uống.

·      Dẫn nước ngọt bằng đường ống hoặc kênh mương từ vùng có nước ngọt lân cận (nếu như vùng bị nhiễm mặn ở gần vùng có nước ngọt).

·      Pha nước mưa trữ trong các bể lớn với nước mặn để dùng trong sinh hoạt, còn ăn uống thì dùng nước mưa.

 

Cần thử nghiệm và phát triển công nghệ xử lý nước lợ thành nước ngọt để cấp nước cho vùng bị nhiễm mặn trong tương lai.

 

 Cấp nước tại vùng núi cao: Vùng này chủ yếu là dân tộc ít người, rất nghèo, nước mặt ở xa, nước ngầm ở sâu và  thường là rất ít. Cấp nước ở đây phải rất linh hoạt, có thể lựa chọn các phương án:

 

·      Hệ thống tự chảy bằng đường ống, nếu có nguồn nước và đủ độ cao để nước có thể tự chảy về các làng bản.

·      Xây dựng đập nhỏ hoặc ao hồ chứa nước mưa tại các thung lũng không thấm nước.

·      Dùng các loại bể và lu chứa nước mưa.

·      Bơm nước từ dưới sông lên hay dùng nước của các dòng suối nhỏ hoặc các nguồn nước ngầm hạn chế.

 

 Cấp nước tại vùng đá vôi castơ: Tại các vùng này nguồn nước ngầm thường ở rất sâu và hầu như không có nước mặt. Phương án cấp nước ở đây có thể là:

 

·      Hệ thống nước ngầm sâu, dùng giếng khoan máy,

·      Tìm kiếm các mỏ nước lộ thiên,

·      Tìm kiếm các giếng nước ở chân đồi rồi bao che lại và sử dụng,

·      Làm các hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo có bảo vệ,

·      Làm các bể chứa nước mưa dùng cho ăn uống.

 


3.4.4     Về nguồn nước

 

Cần hiểu biết tường tận về các nguồn nước và tăng cường công tác quản lý nguồn nước, coi nước là loại tài nguyên quý hiếm. Hiện nay, đã có khá nhiều thông tin về các nguồn nước ở các Bộ: Công nghiệp, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Xây dựng, Ban chỉ đạo quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường và các tỉnh. Những thông tin này cần được hệ thống hoá, giúp cho việc quản lý nguồn nước  được thống nhất và chặt chẽ ở Trung ương cũng như cấp tỉnh. Luật Tài nguyên nước đã nói rõ nước sử dụng  cho sinh hoạt cần được ưu tiên hơn nước sử dụng  cho các mục đích khác và điều này phải được đưa vào quy chế quản lý và sử dụng  các nguồn nước.

 

Cấp nước cho sinh hoạt nông thôn chỉ là một bộ phận sử dụng  nước với khối lượng nhỏ nhưng lại rất quan trọng vì đòi hỏi chất lượng cao. Bởi vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần giải quyết vấn đề tác động lẫn nhau giữa Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn và các nhu cầu dùng nước khác, đặc biệt chú trọng chống ô nhiễm nguồn nước. Lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn sẽ hỗ trợ  lĩnh vực nguồn nước bằng cách thiết lập một hệ thống theo dõi nguồn nước , sử dụng  các số liệu được thu thập từ quá trình thực hiện chương trình Nước sạch – Vệ sinh môi trường. Như vậy, phải có kế hoạch điều tra, quản lý và bảo vệ các nguồn nước .

 

Điều tra nguồn nước 

Mỗi tỉnh cần thành lập một cơ sở dữ liệu, thống kê về các nguồn nước. Những thông tin về kết quả thực hiện Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn sẽ được bổ sung vào cơ sở dữ liệu này. Cần điều tra tỷ mỷ về trữ lượng nước ngầm, nước mặt, nước mưa, khả năng có thể khai thác được, số lượng đã khai thác, khả năng hồi phục của nguồn nước. Cơ sở dữ liệu này có thể bao gồm cả một danh sách đăng ký những đối tượng khai thác nước và tất cả các hộ hay các tổ chức có nhiều chất thải rắn hoặc lỏng thải vào các nguồn nước; cần thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chi tiền để làm sạch nguồn nước.

 

Quản lý, bảo vệ nguồn nước 

Từng tỉnh cần soạn thảo một kế hoạch quản lý, bảo vệ các nguồn nước, trong đó nêu lên từng nguồn nước sẽ được phát triển ra sao và yêu cầu bảo vệ như thế nào, các đối tượng được ưu tiên phân bổ nguồn nước, và đặc biệt phải có kế hoạch dự phòng khi hạn hán hay gặp các tình huống khẩn cấp về nguồn nước.

 

Phối hợp giữa các tỉnh để bảo vệ nguồn nước của các lưu vực sông chảy qua nhiều tỉnh.

 

 

 

3.4.5     Một số vấn đề cấp bách đối với vệ sinh nông thôn

 

Vệ sinh tại các vùng bị ngập lụt

Đây là vấn đề nghiêm trọng vì một bộ phận lớn dân số nông thôn  sống tại các vùng này. Cầu tiêu ao cá đã từng là giải pháp truyền thống ở phía nam và là loại nhà tiêu rẻ tiền nhất nhưng đã bị cấm. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có phương án thay thế. Vì vậy, Bộ Y tế cần phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  và Bộ Khoa học và Công nghệ môi trường sớm nghiên cứu tìm ra giải pháp phù hợp.

 

Nhà tiêu dội nước

Nhà tiêu dội nước Sulabh là loại nhà tiêu tiên tiến hơn các hố xí đào truyền thống, đã được sử dụng  rộng rãi trên thế giới và đã đưa vào áp dụng ở nước ta. Hiện nay còn có ý kiến khác nhau về loại hố xí này. Vì vậy, cần sớm nghiên cứu để có kết luận xác đáng, nếu được đánh giá tốt cần hướng dẫn để phổ biến sử dụng.

 

Hố xí hai ngăn

Không những đã được sử dụng ở Việt nam từ lâu mà còn được nhiều nước trên thế giới đánh giá cao và áp dụng. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn có ý kiến khác nhau về loại hố xí này. Vì vậy, cần đánh giá việc sử dụng hố xí 2 ngăn ở các vùng trong các năm qua, tiếp tục cải tiến để đạt được tiêu chuẩn hố xí hợp vệ sinh.

 

Vấn đề tái sử dụng phân người làm phân bón

Phân người mang lại hiệu quả kinh tế cho nhiều hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp. Vì vậy không thể cấm họ dùng phân người để bón ruộng. Điều quan trọng là hướng dẫn họ cách ủ phân để bón ruộng mà không làm ô nhiễm môi trường và gây tác hại cho sức khoẻ. Cần có quy định về tiêu chuẩn phân đã ủ được phép sử dụng và quy trình ủ phân, đồng thời thực hiện triệt để lệnh cấm sử dụng phân tươi.

 

3.4.6     Phòng chống thiên tai

 

Việc thiếu chủ động phòng chống thiên tai ngày càng thêm trầm trọng do thiếu thông tin dự báo như: hạn hán và lũ lụt đã gây ra những thiệt hại to lớn và đã tăng gấp 3 lần từ những năm 1960 đến những năm 1980. Một số nước đang phát triển đã bị tụt lùi trong nhiều năm do không đầu tư vào việc thu thập số liệu và sẵn sàng phòng chống thiên tai.

 

Biểu đồ về khí hậu được dự báo và mức nước biển đang dâng lên sẽ làm tăng thêm nguy cơ đe doạ sự an toàn của các nguồn nước.

 

Những tổn thất và khó khăn do hạn hán và lũ lụt gây ra có thể giảm bớt đáng kể bằng cách chủ động phòng chống thiên tai. Đặc biệt cần bảo vệ và quản lý tốt các nguồn nước đã có; chống thất thoát và sử dụng nước tiết kiệm, tu bổ nâng cấp các hồ chứa nước, đắp đập trên các suối, làm máng dẫn nước, đào sâu các giếng cũ và khoan thêm giếng mới.

 

Tình hình lũ lụt rất nghiêm trọng liên tiếp xảy ra ở các tỉnh Miền Trung, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu long và các tỉnh Miền núi phía bắc trong mấy năm gần đây đã đặt ra nhiệm vụ rất bức xúc và to lớn đối với công tác phòng chống thiên tai. Đồng thời đòi hỏi nghiên cứu các giải pháp thích hợp cung cấp nước sạch và bảo đảm vệ sinh môi trường cho những vùng thường xuyên bị thiên tai.

3.5        Một số vấn đề cần chú ý trong quá trình tổ chức thực hiện chiến lược

 

Các biện pháp nêu ở trên là các biện pháp cơ bản chung cho tất cả các vùng nông thôn trong cả nước. Trong quá trình tổ chức thực hiện cần đặc biệt chú ý hai vấn đề sau đây:

 

3.5.1     Đẩy mạnh hợp tác quốc tế

 

Trong xu thế nền kinh tế thế giới ngày càng đi vào toàn cầu hóa, trong điều kiện nước ta đang hướng tới hội nhập với khu vực và thế giới với đường lối mở cửa thì hợp tác quốc tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với phát triển đất nước nói chung và phát triển Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn nói riêng.

 

Trên cơ sở phát huy nội lực, nếu biết mở rộng và tranh thủ  hợp tác giúp đỡ quốc tế thì có thể đẩy nhanh hơn và thực hiện tốt hơn Chiến lược Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn dưới nhiều hình thức: hợp tác đa phương, hợp tác song phương, hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, khuyến khích các hãng tư nhân đầu tư và liên doanh, bao gồm các mặt:

 

·      Trao đổi kinh nghiệm về tổ chức quản lý, cơ chế chính sách nhằm phát triển Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn,

·      Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực,

·      Chuyển giao công nghệ tiên tiến và thích hợp về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn,

·      Tài trợ nguồn vốn bao gồm vốn viện trợ không hoàn lại, vốn cho vay tín dụng ưu đãi,

·      Tạo môi trường thuận lợi thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực phát triển nông thôn, trong đó có cấp nước sạch nông thôn.

 

3.5.2     Xem xét đặc điểm khác nhau của các vùng

 

Việt Nam là đất nước rộng lớn và đa dạng với các điều kiện kinh tế, xã hội, địa hình, khí hậu và nguồn nước rất khác nhau. Do đó, Chiến lược quốc gia phải phù hợp với tất cả các điều kiện này. Tuy nhiên, bản chất của Chiến lược là dựa trên nhu cầu và phân cấp, có nghĩa là người sử dụng quyết định về công nghệ và số tiền mà họ muốn sử dụng cho các công trình cấp nước và vệ sinh nông thôn, đồng thời các tỉnh sẽ soạn thảo kế hoạch thực hiện của riêng mình. Vì vậy, Chiến lược cần xem xét những khác biệt chủ yếu giữa các vùng thông qua cơ chế đáp ứng nhu cầu và các chính sách được áp dụng theo điều kiện của từng vùng. Sự khác biệt cụ thể theo vùng được giải quyết như sau:

 

·    Các vùng rất nghèo (như vùng núi cao) được hưởng chính sách hỗ trợ ưu đãi cao hơn.

·    Chi phí vượt trội của các công trình cấp nước và vệ sinh ở các vùng sâu, vùng xa hay những vùng đặc biệt khó khăn về kỹ thuật (như vùng núi, khu vực đá vôi castơ, vùng bị nhiễm mặn) sẽ được giải quyết bằng cách tăng mức trợ cấp.

·    Các vùng có điều kiện kinh tế phát triển và điều kiện thiên nhiên, nguồn nước thuận lợi có thể sử dụng các công nghệ có mức dịch vụ cao hơn (và cũng đắt tiền hơn) với sự hỗ trợ hạn chế từ bên ngoài.

 

Kế hoạch hành động bao gồm một chương trình thí điểm tại các tỉnh, và chương trình này sẽ đặc biệt chú ý đến việc phát triển những hướng dẫn phù hợp theo vùng. Một số khác biệt chủ yếu trong việc thực hiện Chiến lược tại các vùng khác nhau là:

 

Miền núi:

Các khu vực này thường có tỷ lệ lớn các gia đình nghèo, do đó sẽ nhận được trợ cấp nhiều hơn mức trung bình, đồng thời được chú ý để phát triển nguồn nhân lực vì đây là một khâu cơ bản để thực hiện mọi chương trình trong khu vực. Thông tin, giáo dục, truyền thông phải xem xét những nhu cầu đặc biệt của người sử dụng, chẳng hạn như trình độ văn hóa thấp hơn các vùng khác, hay phải sử dụng ngôn ngữ dân tộc ít người. Vấn đề kỹ thuật chủ yếu là sự khan hiếm về nguồn nước có thể khai thác.  ở đây có rất ít, thậm chí không có nguồn nước ngầm, còn các con sông, suối thì ở các thung lũng sâu. Cần có nhiều phương án để giải quyết nguồn nước như kết hợp với thủy lợi làm các hồ chứa nước, trồng rừng để bảo vệ nguồn nước. Xây dựng hệ thống tự chảy bằng đường ống ở những nơi có nguồn nước ở độ cao có thể tự chảy về thôn xóm; hoặc bơm nước từ các dòng suối nhỏ và các nguồn nước ngầm hạn chế. Xây dựng các bể nước mưa là giải pháp có thể áp dụng rộng rãi ở miền núi.

 

Khu vực đá vôi Castơ

Những vấn đề về kỹ thuật và xã hội tại các vùng này cũng tương tự như khu vực miền núi. Tuy nhiên sự khác biệt theo mùa khắc nghiệt hơn vì các nguồn nước tại đây nhanh chóng thấm sâu xuống các hang động ngầm gây nên hiện tượng khô kiệt. Các phương án kỹ thuật bao gồm: lấy nước ngầm sâu, dẫn nước từ nơi khác đến, xây dựng các đập nhỏ hoặc các ao, hồ chứa nước mưa tại các thung lũng không thấm nước.

 

Đồng bằng sông Hồng

Mật độ dân số rất cao và thói quen sử dụng phân người và phân gia súc làm phân bón khiến cho vấn đề vệ sinh trở thành mối lo ngại lớn nhất tại vùng này, do đó, phải hết sức chú trọng vấn đề vệ sinh.

 

Khu vực ven biển và các hải đảo

Nước bị nhiễm mặn và mật độ dân số cao ở một số làng đánh cá làm cho các nguồn nước và vệ sinh trở thành mối lo ngại chủ yếu của vùng này. Theo ước tính (1998) có 13 triệu người sống trong vùng bị nhiễm mặn. Cần tập trung vào việc đánh giá các phương án về nguồn nước và xây dựng các bản đồ nguồn nước trong tỉnh cũng như phát triển các bể chứa nước mưa tại đây. Sử dụng các hệ thống cấp nước bằng đường ống dẫn hoặc kênh dẫn nước ngọt từ vùng lân cận, kết hợp với bể chứa nước mưa là giải pháp cơ bản.

 

Đồng bằng sông Cửu long

Địa hình thấp, thường xuyên bị ngập lụt, nước bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, các nguồn nước ngầm sâu và dễ bị ô nhiễm là những lo ngại chủ yếu. Cần nhấn mạnh những giải pháp kỹ thuật thích hợp và bền vững cho vùng này. Vệ sinh tại các vùng hay bị ngập lụt là vấn đề quan trọng cho khoảng 16 triệu dân cư sống ở vùng này. Cần phát triển mô hình nhà vệ sinh thích hợp để thay thế cho loại cầu tiêu ao cá gây mất vệ sinh và nguy cơ ô nhiễm môi trường.

 

Việc mở rộng hợp tác quốc tế và bám sát đặc điểm của từng vùng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện thành công Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn, đặc biệt là trong chương trình hành động đến năm 2005.


 

PHẦN IV

 

4.        CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG ĐẾN NĂM 2005

 

 

Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn được soạn thảo trong bối cảnh có một số chương trình và dự án Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn đã được thực hiện trong nhiều năm nay và chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch & vệ sinh môi trường đã được Chính phủ phê duyệt ngày 03/12/1998 sẽ thực hiện từ 1999 đến 2005.

 

Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn sẽ hướng dẫn những nguyên tắc cơ bản: phát triển bền vững, cách tiếp cận dựa trên nhu cầu và xã hội hóa công tác Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn để chỉ đạo toàn bộ lĩnh vực cũng như các chương trình và dự án Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

Trong giai đoạn 1999 - 2005 cần hình thành một chương trình hành động nhằm hỗ trợ xây dựng năng lực, cải cách tổ chức và các thể chế, trợ giúp kỹ thuật để tạo các tiền đề quan trọng cho việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch & vệ sinh môi trường và các chương trình dự án khác, đồng thời xây dựng nền móng vững chắc cho việc thực hiện Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn. Cụ thể là:

 

·        Cần điều chỉnh các chương trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn hiện có như chương trình WATSAN, chương trình phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn do Ngân hàng Phát triển Châu á tài trợ và các dự án Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn khác sao cho phù hợp với các nguyên tắc cơ bản và cách tiếp cận chung của Chiến lược Quốc gia. Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch & vệ sinh môi trường cũng cần được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản của Chiến lược Quốc gia.

·        Thực hiện tốt các Chương trình hiện có và 15 chương trình thí điểm về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ở 15 tỉnh trong 2 năm 2000, 2001 và mở rộng việc thực hiện chương trình cấp nước sạch và vệ sinh ra 46 tỉnh khác trong 4 năm tiếp theo nhằm nâng cao tỷ lệ dân cư nông thôn  được dùng nước sạch và hố xí hợp vệ sinh theo mục tiêu đã đề ra. Cần kết hợp chương trình thí điểm này để giải quyết yêu cầu bức bách nhất về cấp nước cho nhân dân ở những vùng bị hạn hán và các vùng khác đang thiếu nước nghiêm trọng. Đồng thời rút ra các bài học về công tác Thông tin - Giáo dục - Truyền thông, phát triển nguồn nhân lực, cải cách hệ  thống tổ chức, xây dựng các cơ chế tài chính để bổ sung và hòan thiện Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

4.1        Chương trình hành động đến năm 2005 gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

 

Thực hiện thí điểm tại 15 tỉnh 

 

   Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn được bắt đầu thực hiện thí điểm ở 15 tỉnh trong 2 năm đầu tiên: 5 tỉnh vào năm 2000 và 10 tỉnh vào năm 2001.

 

Mục đích của thực hiện thí điểm:

·        Thể nghiệm tính khả thi và đúng đắn của Chiến lược, đồng thời tìm ra các điểm chưa phù hợp cần phải điều chỉnh.

·        Khởi đầu cho việc thực hiện Chiến lược được xem như chương trình trình diễn để mở rộng ra các tỉnh khác, đồng thời cải thiện việc cấp nước và vệ sinh cho nhân dân các tỉnh thí điểm.

 

Những công việc triển khai bao gồm:

 

Lựa chọn 15 tỉnh thí điểm.

 Tiêu chuẩn lựa chọn là:

 

·      Những tỉnh rất khó khăn về cấp nước và vệ sinh, thường bị hạn hán, ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo tỷ lệ các hộ được dùng nước sạch và hố xí hợp vệ sinh còn rất thấp.

·      Các tỉnh được các nhà tài trợ sẵn sàng giúp đỡ.

·      Mỗi tỉnh đặc trưng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cho một vùng, 15 tỉnh có thể đại diện cho các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, miền Núi phía Bắc, vùng Trung du, vùng Tây Nguyên, vùng ven biển miền Trung, vùng Bắc Trung bộ, vùng Đông Nam bộ.

·      Mỗi tỉnh thí điểm thành lập cơ quan thực hiện Chương trình dưới sự chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh, phân công rõ trách nhiệm cho các Sở theo chức năng và khả năng của họ, trong đó Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn thường là cơ quan chủ trì.

·      Dựa trên nguyên tắc cơ bản và cách tiếp cận chung của Chiến lược Quốc gia, các tỉnh lập chương trình và kế hoạch Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn theo các điều kiện và nhu cầu cụ thể của mình. Đó là chương trình tổng hợp gồm nhiều hợp phần: Thông tin - Giáo dục - Truyền thông, nâng cao năng lực, cơ chế huy động và sử dụng vốn, áp dụng và chuyển giao công nghệ. Cần lập kế hoạch, tiến độ triển khai hàng năm cho chương trình tổng hợp này.

·      Mỗi tỉnh lựa chọn 3 huyện thí điểm đầu tiên. Tiêu chuẩn lựa chọn các huyện thí điểm có thể tham khảo tiêu chuẩn lựa chọn các tỉnh thí điểm nêu trên để chọn ra các huyện đại diện cho các tiểu vùng trong tỉnh đặc biệt chú ý những huyện gặp nhiều khó khăn về cấp nước như bị hạn hán, nguồn nước khan hiếm. Thành lập Trung tâm tư vấn dịch vụ cấp nước sạch và vệ sinh ở mỗi huyện, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nghiệp vụ cho Trung tâm này.

·      Thiết lập hệ thống và phương pháp giám sát, đánh giá các chương trình thí điểm, xem xét đánh giá kết quả hàng năm và đánh giá tổng hợp vào cuối năm thứ hai nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm để mở rộng việc lập và thực hiện chương trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ở các tỉnh khác, đồng thời bổ sung và điều chỉnh Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn cho phù hợp với thực tiễn.

 

4.2        Mở rộng thực hiện chương trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ra 46 tỉnh khác

 

Sau 2 năm thực hiện thí điểm Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn tại 15 tỉnh thí điểm sẽ rút ra được các bài học từ thực tiễn về áp dụng các nguyên tắc cơ bản và cách tiếp cận chung của Chiến lược quốc gia, các tỉnh sẽ lập chương trình tổng hợp về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn theo các điều kiện kinh tế xã hội và nhu cầu của tỉnh mình và tổ chức thực hiện chương trình theo các giai đoạn và kế hoạch hàng năm.  46 tỉnh có thể chia làm 4 nhóm để lần lượt thực hiện từng năm, mỗi nhóm từ 11 - 12 tỉnh.

 

Các chương trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn của các tỉnh cũng nằm trong khuôn khổ chương trình mục tiêu quốc gia nhưng phải thực hiện đầy đủ các hướng dẫn có tính nguyên tắc của Chiến lược quốc gia, có những thay đổi cơ bản trong cách nghĩ và hành động của các nhân viên công tác trong lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn và của mọi người dân nông thôn.

 

Các chương trình thí điểm cũng như các chương trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn mở rộng là nhằm thực hiện mục tiêu cụ thể của Chiến lược quốc gia giai đoạn 2005.

4.3        Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự trợ giúp về kỹ thuật, tài chính và kinh nghiệm của các nước về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn

  

   Các hoạt động chủ yếu bao gồm:

·      Giới thiệu Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn cho các nhà tài trợ để họ hiểu rõ và tạo cơ hội giúp đỡ phát triển lĩnh vực này theo tinh thần của Chiến lược.

·      Giới thiệu các dự án trợ giúp kỹ thuật, tạo tiền đề của chương trình hỗ trợ Chiến lược Quốc gia, chương trình 15 tỉnh thí điểm. Vận động các nhà tài trợ giúp đỡ các dự án và chương trình này.

·      Xem xét điều chỉnh các chương trình, dự án hiện có đã được sự giúp đỡ của các nhà tài trợ cho phù hợp với Chiến lược như: Chương trình (WATSAN) cấp nước và vệ sinh nông thôn do UNICEF hỗ trợ, chương trình phát triển cơ sở hạ tầng, trong đó có cấp nước nông thôn do Ngân hàng phát triển Châu á giúp đỡ.

·      Đẩy mạnh trao đổi kinh nghiệm quốc tế và khu vực về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn, tiếp thu và ứng dụng các công nghệ tiên tiến và công nghệ thích hợp để giải quyết cấp nước sạch và vệ sinh cho các vùng nhiễm mặn, vùng núi, hải đảo, vùng bị ngập lụt; công nghệ bảo vệ và khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn nước; công nghệ tìm kiếm và khai thác nguồn nước mới trong những hoàn cảnh khẩn cấp như hạn hán kéo dài.

4.4        Triển khai công tác Thông tin - Giáo dục - Truyền thông

 

Thông tin - Giáo dục - Truyền thông có vai trò rất quan trọng đối với thực hiện Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn. Trong 6 năm đầu cần phát triển hoàn chỉnh chương trình Thông tin - Giáo dục - Truyền thông về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn tại 15 tỉnh thí điểm và nhân rộng ra các tỉnh khác.

 

Lập chương trình Thông tin - Giáo dục - Truyền thông ở 15 tỉnh thí điểm và mở rộng ra các tỉnh khác.

Chương trình Thông tin - Giáo dục - Truyền thông gồm 6 hợp phần:

·      Cách tiếp cận và hướng dẫn chung về Thông tin - Giáo dục - Truyền thông,

·      Thông tin - Giáo dục - Truyền thông trực tiếp,

·      Thông tin đại chúng và các chiến dịch truyền thông quốc gia,

·      Giáo dục vệ sinh nâng cao sức khoẻ ở các trường học,

·      Xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh tại các cơ quan, bệnh viện, trường học và công trình công cộng khác,

·      Hệ thống giám sát và đánh giá kết quả Thông tin - Giáo dục - Truyền thông.

 

Khảo sát để hiểu rõ đối tượng cần được tuyên truyền, nhằm xác định nội dung, phương pháp và thiết kế các bộ công cụ tuyên truyền phù hợp. Lựa chọn đội ngũ tuyên truyền viên ở các cấp và có chương trình, kế hoạch đào tạo nâng cao kiến thức cho các tuyên truyền viên, đặc biệt là đội ngũ tuyên truyền viên ở thôn, xã.

 

Kết hợp nhiều hình thức thông tin - tuyên truyền như phát thanh truyền hình, thông qua các tác phẩm văn học, nghệ thuật, tuyên truyền trực tiếp và phát động các chiến dịch truyền thông ở cấp huyện, cấp tỉnh, cấp quốc gia. Lồng ghép Thông tin - Giáo dục - Truyền thông về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn với các chương trình khác như kế hoạch hoá gia đình, xoá đói giảm nghèo, định canh định cư.

Việc giới thiệu các mô hình cấp nước, mô hình hố xí hợp vệ sinh để người dân biết và lựa chọn cũng là 1 nội dung quan trọng của Thông tin - Giáo dục - Truyền thông . Phải phối hợp chặt chẽ việc lập kế hoạch Thông tin - Giáo dục - Truyền thông với lập kế hoạch, lập dự án khả thi và xây dựng công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn tại các huyện, các xã.

 

Nhà nước dành kinh phí thích đáng cho công tác Thông tin - Giáo dục - Truyền thông, coi đó là một hợp phần của chương trình và dự án Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn. Tuy nhiên, cần huy động lực lượng của các đoàn thể quần chúng, những tuyên truyền viên tự nguyện và các cơ sở vật chất hiện có để triển khai Thông tin - Giáo dục - Truyền thông.

4.5        Cải cách tổ chức, tăng cường năng lực quản lý ở các cấp

 

Tập trung trách nhiệm vào Bộ chủ trì Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các Bộ: Y tế,  Xây dựng, Khoa học Công nghệ và Môi trường, Giáo dục và đào tạo, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính; trách nhiệm của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt nam và các đoàn thể quần chúng khác trong lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn.

 

Sắp xếp lại và tăng cường năng lực của cơ quan quản lý, điều phối chương trình mục tiêu quốc gia và Chiến lược quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn. Tách chức năng xây lắp ra khỏi chức năng quản lý Nhà nước.

 

Củng cố hệ thống xét nghiệm và giám sát chất lượng nước, chất lượng công trình vệ sinh của Bộ Y tế để các cơ quan kỹ thuật của Bộ Y tế có thể đảm nhận được chức năng đánh giá hiệu quả cấp nước và VSMT.

 

Củng cố bộ máy và tăng cường năng lực của cấp tỉnh, huyện về lập kế hoạch, điều phối, tổ chức thực hiện và quản lý chương trình và dự án Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ở địa phương mình.

 

Thành lập trung tâm dịch vụ Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ở các huyện để cung cấp các dịch vụ cho người sử dụng như công nghệ  cấp nước sạch và vệ sinh, vận hành bảo dưỡng, quản lý.

 

Thực hiện nguyên tắc quốc tế Dublin và chính sách phi tập trung hoá của Nhà nước, phân cấp thực hiện Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn cho tới cấp phù hợp thấp nhất. Các cộng đồng dân cư ở xã, thôn bản và phụ nữ đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

Việc cải cách tổ chức, tăng cường năng lực quản lý ở các cấp sẽ được thực hiện trong Chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình của tỉnh về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn theo các nguyên tắc của Chiến lược này.

4.6        Soạn thảo và ban hành các văn bản pháp quy

 

Hiện nay đã có luật Tài nguyên nước, luật Bảo vệ môi trường, luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, cần nghiên cứu soạn thảo các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị, thông tư và bổ sung sửa đổi hoàn thiện các văn bản hiện có để tạo thuận lợi cho việc thực hiện Chiến lược như:

 

·        Quy định cụ thể về ưu tiên sử dụng nguồn nước cho sinh hoạt nông thôn, nhất là khi có mâu thuẫn giữa yêu cầu nước cho sinh hoạt và cho các mục đích khác.

·        Các tiêu chuẩn và hướng dẫn cụ thể có liên quan đến lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn như tiêu chuẩn nước sạch, tiêu chuẩn nước sinh hoạt, quy trình khai thác nước ngầm và các thủ tục khoan giếng, các tiêu chuẩn hố xí hợp vệ sinh ở các vùng.

·        Các quy định tạo môi trường kinh doanh cho khu vực tư nhân, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người sử dụng.

·        Các hướng dẫn và quy trình lập, thẩm định và phê duyệt kế hoạch, chương trình, dự án Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

·        Hướng dẫn cụ thể về đấu thầu, hợp đồng xây dựng đối với công trình cấp nước và vệ sinh nông thôn (theo Nghị định của Chính phủ về quản lý đầu tư và đấu thầu xây dựng).

4.7        Công tác quy hoạch

 

Trên cơ sở Chiến lược quốc gia Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn cần khẩn trương lập quy hoạch tổng thể cấp nước sạch và vệ sinh cho các khu dân cư nông thôn trên địa bàn tỉnh, huyện và xã cho sát với điều kiện về nguồn nước, về khả năng huy động các nguồn lực và nguyện vọng của nhân dân ở mỗi vùng.

4.8        Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

 

Xác định nhu cầu đào tạo cán bộ cho lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ở các cấp, số lượng mỗi loại cán bộ cần đào tạo ở cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh và cấp Trung ương bao gồm cả số cán bộ cần được đào tạo lại cho phù hợp với yêu cầu sắp tới và số cán bộ cần đào tạo mới.

 

·        Đối với cấp Trung ương và cấp tỉnh cần đào tạo cán bộ lập kế hoạch, chương trình, dự án và cán bộ quản lý, điều phối.

 

·        Đối với cấp huyện, cấp xã và thôn ấp cần đào tạo cán bộ lập kế hoạch thực hiện dự án, cán bộ quản lý, công nhân khoan khai thác nước ngầm và các công nhân kỹ thuật, vận hành và bảo dưỡng công trình cấp nước sạch và vệ sinh.

 

·        Đối với các công ty (quốc doanh và tư nhân) cần giúp đỡ họ nâng cao trình độ, năng lực đáp ứng các yêu cầu tư vấn và xây lắp công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

áp dụng các hình thức đào tạo thích hợp cho từng loại cán bộ bao gồm đào tạo dài hạn ở các trường đại học, cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và trường công nhân kỹ thuật, các lớp đào tạo ngắn hạn theo chuyên đề và hình thức đào tạo qua công việc.

 

Bộ Giáo dục và đào tạo cần phối hợp với các Bộ liên quan soạn thảo các chương trình, bổ sung các nội dung mới cập nhật cho các chuyên ngành đào tạo về cấp nước và vệ sinh môi trường tại trường Đại học Thủy lợi, Đại học Xây dựng, Đại học Bách khoa, Đại học Kiến trúc, các trường trung học chuyên nghiệp và trường công nhân kỹ thuật ngành cấp nước sạch và vệ sinh môi trường.

 

Nâng cao năng lực của các cơ sở đào tạo bao gồm tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ giảng dạy.

 

Tổ chức các Hội thảo và các lớp đào tạo ngắn ngày theo từng chuyên đề và giới thiệu kinh nghiệm quốc tế và trong nước về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

Phối hợp chặt chẽ khâu đào tạo với khâu sử dụng cán bộ. Đánh giá hiệu quả sử dụng cán bộ trong lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

4.9        Đổi mới cơ chế tài chính,  huy động các nguồn vốn trong xã hội

 

Từ 2000 đến 2005,  các cơ quan tài chính cần thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

·        Soạn thảo, trình Chính phủ ban hành các chính sách và cơ chế tài chính nhằm huy động đến mức cao nhất các nguồn vốn của các hộ gia đình, của khu vực tư nhân và các thành phần kinh tế khác và vốn của Nhà nước. Thu hút vốn của các nhà tài trợ song phương, đa phương và các tổ chức phi chính phủ đầu tư cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

·        Soạn thảo các quy định về thành lập và hoạt động của quỹ tín dụng và quỹ hỗ trợ Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn. Xác định tiêu chuẩn hộ nghèo và hộ chính sách ưu tiên được trợ cấp vốn và quy trình cũng như các thủ tục phân bổ vốn trợ cấp cho các hộ trong diện được trợ cấp. Xác định tiêu chuẩn và điều kiện được vay vốn, các quy định, thủ tục cho vay và hoàn trả vốn vay vừa đơn giản, vừa chặt chẽ.

·        Xác định các tổ chức được giao phân bổ vốn trợ cấp và vốn cho vay tín dụng ở Trung ương, tỉnh và huyện. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có mạng lưới xuống đến huyện và có đội ngũ cán bộ đông đảo có thể là cơ quan chính đảm nhiệm cho vay tín dụng, nhưng cần phối hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ở các cấp.

·        Triển khai việc trợ cấp vốn và cho vay tín dụng ở 15 tỉnh thí điểm trong 2 năm đầu và mở rộng ra các tỉnh khác trong các năm tiếp theo.

·        Soạn thảo và ban hành quy định khung về giá nước và thu tiền nước đối với các hệ thống cấp nước tập trung.

·        Soạn thảo và ban hành các quy định đánh giá và giám sát quỹ hỗ trợ và quỹ tín dụng cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ở các cấp, với sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư.

 

4.10        Nghiên cứu phát triển và áp dụng công nghệ thích hợp

 

Giai đoạn 2000 - 2005 cần tập trung vào các hoạt động chủ yếu sau:

 

·        Lập chương trình nghiên cứu giải quyết các vấn đề công nghệ còn tồn tại như nhà tiêu trên ao cá, hố xí thấm, hố xí hai ngăn, cấp nước ở vùng bị nhiễm mặn, vùng núi cao, vùng đá vôi castơ, vùng thường xuyên bị hạn hán và ứng dụng công nghệ tiên tiến về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

·        Biên soạn Sổ tay hướng dẫn công nghệ cấp nước và vệ sinh thích hợp với các điều kiện khác nhau ở các vùng để giới thiệu và phổ biến cho cộng đồng và các hộ gia đình lựa chọn.

·        Nghiên cứu điển hình hoá và tiêu chuẩn hoá các loại hình cấp nước với quy mô khác nhau và các mô hình hố xí hợp vệ sinh ở các vùng để giới thiệu cho dân lựa chọn. Những mô hình cấp nước và hố xí đã được chấp nhận cần đưa vào sản xuất công nghiệp để nâng cao chất lượng và giảm giá thành.

·        Biên soạn sổ tay hướng dẫn về bảo vệ, sử dụng nguồn nước và hướng dẫn đánh giá chất lượng nước; cung cấp các thiết bị cho cơ sở đánh giá chất lượng nước sinh hoạt và nước sạch; tăng cường hệ thống xét nghiệm và giám sát chất lượng nước và công trình vệ sinh.

·        Mở rộng việc trao đổi, tiếp thu các công nghệ cấp nước và vệ sinh của các nước trong khu vực và các nước tiên tiến nhằm áp dụng vào Việt nam, nhất là các vùng đang cần có công nghệ tiên tiến cấp nước và vệ sinh.

·        Thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ sinh học nhằm giảm bớt sử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu làm ô nhiễm nguồn nước và gây tác hại đến sức khoẻ của người dân.

·        Đẩy mạnh sản xuất trong nước các vật tư, thiết bị, phụ tùng phục vụ cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn.

 

Thông tin giáo dục truyền thông có trách nhiệm giới thiệu và phổ biến các công nghệ cấp nước sạch và vệ sinh tới hộ gia đình nông thôn.

4.11     Thành lập cơ sở dữ liệu chung cho lĩnh vực cấp nước và vệ sinh nông thôn

 

Hiện nay các dữ liệu phục vụ Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn đang phân tán ở nhiều cơ quan thuộc các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng, Y tế, Công nghiệp, Khoa học công nghệ và Môi trường, Ban chỉ đạo quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường. Cần hình thành cơ sở dữ liệu về cấp nước và vệ sinh nông thôn, bao gồm: nguồn nước, các công nghệ cấp nước sạch và vệ sinh, tài chính, tổ chức, đội ngũ cán bộ ở các cấp trong lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Các cơ sở dữ liệu cần được cập nhật phục vụ tốt cho việc lập chương trình, dự án và các kế hoạch cấp nước sạch và vệ sinh ở mỗi cấp.

 

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với các Bộ lập quy hoạch tổng thể khai thác sử dụng tổng hợp tài nguyên nước. Trong đó, đánh giá thực trạng khai thác nguồn nước phục vụ cho cấp nước sinh hoạt ở các vùng, các tỉnh; xác định rõ khả năng cấp nước cho sinh hoạt ở mỗi địa phương để làm căn cứ lập chương trình, kế hoạch cấp nước của tỉnh, đồng thời đề ra kế hoạch phòng chống khi hạn hán hay khi gặp các tình huống khẩn cấp về nguồn nước.

 

 

 

 



Các tin khác:
Lễ Mittinh hưởng ứng “Tuần lễ quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường” năm 2013 [13-05-2013]
Lễ Mít tinh hưởng ứng Tuần lễ quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường năm 2013. [13-05-2013]
Tập huấn truyền thông Rửa tay với xà phòng trong trường học [11-01-2010]
Tập huấn công tác NS-VSMT bậc Tiểu học và THCS [09-10-2009]
Toàn ngành GD-ĐT Phú Yên hưởng ứng Tuần lễ Nước sạch và Vệ sinh môi trường [14-09-2009]
Tuy An:Hơn 83.000 người được hưởng lợi từ chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn [08-04-2009]
Phát động tuần lễ quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường [08-04-2009]
Thông tư liên tịch số: 93/2007/TTLT-BNN-BYT-BGDĐT [08-04-2009]
Tăng cường công tác VS môi trường trường học [08-04-2009]
Xử lý nước thải sinh hoạt [08-04-2009]
 
 
     
: